Tiếng Việt

English



Tìm kiếm   


THĂM DÒ Ý KIẾN
Bạn có quan tâm đến văn hóa dân gian không?
Rất quan tâm
Quan tâm
Không quan tâm
 
TXOBR    
  Mã xác nhận:
    Xem Kết quả


CHECK MAIL
Email
Password





236695 lượt truy cập
1 người online

Phong tục lễ hội

Tập quán tang ma của người Tày Poọng ở Tương Dương, Nghệ An
Tin đưa ngày 3/7/2007

TS. Trần Bình(*)  
TS. Lý Hành Sơn(**)
Theo kết quả xác định thành phần dân tộc ở miền Bắc vào những năm 70 của thế kỷ XX, cộng đồng Tày Poọng được xác định là một trong những nhóm địa phương thuộc cộng đồng dân tộc Thổ. Theo các nhân chứng người Poọng ở Bản Phồng (xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An), xưa kia còn sinh sống ở bên đất của Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, họ tự nhận mình là Tày Con Kha (người Xá), cũng có khi họ được các cộng đồng láng giềng gọi là Xá Toong Lương. Từ khi di cư quay trở lại sinh sống trên đất Việt Nam (Bản Phồng, xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An), họ được gọi và cũng tự nhận mình là người Tày Poọng (xú là cùn Tày Poọng). Họ gọi người Thái là cùn Tày, người Khơ Mú Tày Hạy, người H'mông là Tày Mẹo, người Lào là Tày Lào, người Đan Lai là Tày Đan Lai và người Kinh (Việt) là Tày Buôn. , cũng có khi họ được các cộng đồng láng giềng gọi là Từ khi di cư quay trở lại sinh sống trên đất Việt Nam (Bản Phồng, xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An), họ được gọi và cũng tự nhận mình là người (). Họ gọi người Thái là người là người H'mông là người Lào làngười Đan Lai là và người Kinh (Việt) là .
Địa bàn cư trú hiện nay người Tày Poọng là vùng đất giáp Lào, thuộc khu vực phía tây - nam của huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Họ cư trú tập trung ở các xã: Tam Hợp (gồm Bản Phồng, bản Xốp Nậm), xã Tam Quang (bản Tùng Hương, bản Liên Hương và bản Tam Hương). Từ xa xưa họ có truyền thống du canh du cư, sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy. Đan lát là hoạt động thủ công gia đình khá phát triển của họ. Họ sinh sống trong các ngôi nhà sàn nhỏ, thường được làm ba gian, bếp nấu ăn thường đặt ở gian giữa. Họ không có trang phục truyền thống riêng, mà thường ăn vận giống như các dân tộc láng giềng, nhất là người Thái, người Kinh.
Nhằm góp phần tìm hiểu về người Tày Poọng và mong muốn cung cấp cho những người quan tâm đến cộng đồng này, chúng tôi chỉ tập trung mô tả về các nghi thức tang lễ của họ, qua kết quả điều tra ở Bản Phồng (xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An).
1. Quan niệm của người Tày Poọng về sự sống và cái chết
Theo quan niệm của người Tày Poọng, thế giới gồm ba tầng: trời, đất và nước. Trên trời có các loại thần linh pá phạ; trên mặt đất có thần đất (ma tít), ma rừng (ma cang xí), ma khe đá (ma kiền trò)...; dưới nước có ma nước (ma đạc), ma con rồng (tu khlụ)...; phía dưới mặt đất (âm phủ) là thế giới của những người lùn (con cùn tày me né). Đối với người sống, mỗi người đều có phần hồn vía (vai) và phần thể xác, trong đó hồn vía giữ vai trò trung tâm sự sống của con người.
Giống như nhiều cộng đồng khác, người Tày Poọng cho rằng vía là phần vô hình, người thường không nhìn thấy được. Vía của người nào thì có hình dạng như bóng của người đó, nhưng nhẹ hơn cơ thể nên thường hay thoát ra khỏi cơ thể để lang thang quanh quẩn ở xung quanh thể xác con người. Vì thế, vía rất dễ bị thất lạc mỗi khi con người di chuyển từ nơi này qua nơi khác, nhất là từ trong rừng trở về nhà. Những trường hợp vía bị thất lạc hoặc thoát ra khỏi cơ thể lâu ngày không trở về thì con người sẽ bị bệnh tật, đau ốm và chết. Muốn để cho người ốm khỏi bệnh thì phải làm lễ gọi víabuộc vía. Do vậy, từ xa xưa người Tày Poọng đã biết làm lễ gọi víabuộc vía cho con người được khoẻ mạnh. Những gia đình có người lâu ngày chưa được làm vía hoặc hay bị ốm đau thường hay tổ chức lễ này. Theo các cụ già, lễ vật làm vía cho trẻ em chỉ cần một con gà hoặc vài con cá suối, nhưng nếu làm vía cho người già thì phải có một con lợn.
Cho dù đã được làm vía nhiều lần nhưng nhiều người vẫn không giữ được vía. Những người mà vía thoát ra khỏi cơ thể vĩnh viễn không trở về thì sẽ bị chết, tức là sẽ phải từ bỏ cuộc sống ở trên gian. Khi con người chết, vía sẽ biến thành ma (ma). Ma của ai sẽ có dáng dấp giống như người ấy khi còn sống. Ma thường sống ở nhà mồ, thỉnh thoảng mới về nhà thăm nom và phù hộ cho con cháu. Các trường hợp bị tổn thương nặng trên cơ thể hoặc bị nước suối cuốn trôi cũng làm cho vía vĩnh viễn thoát ra khỏi cơ thể, tức là người chết. Những trường hợp này gọi là chết do ma bắt vía nên không được mang thể xác vào trong nhà để làm các nghi lễ chôn cất. Họ sợ ma bắt vía của những người còn sống trong nhà.
2. Trình tự các nghi thức tang ma 
Theo điều tra ở Bản Phồng (xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An), khi trong nhà có người chết, họ đặt thi hài trên sàn nhà, tại nơi gần bàn thờ tổ tiên, dọc theo nóc nhà. Xưa kia, họ thường đặt người chết lên vỏ cây hoặc trên một tấm cót, hiện nay người quá cố được đặt trên chiếc chiếu, cũng có trường hợp đặt trên tấm vải. Tuỳ theo từng dòng họ, chẳng hạn như họ Viêng thường để chân người chết hướng về phía bếp, còn đầu hướng về phía đầu hồi nơi có bàn thờ tổ tiên; họ Vi trên (chi trên) để chân người chết hướng về phía đầu hồi có bàn thờ, đầu hướng về phía bếp; họ Vi em (chi dưới) để ngược lại... Khi đưa ma ra khỏi nhà, họ thường đưa ra theo phía đầu hồi, phía chân người chết. Họ phá vách thưng để đưa thi thể người chết qua. Trước khi đưa ma ra khỏi nhà họ phải làm một cầu thang mới, với số bậc lẻ, thường là 3 hoặc 5 bậc... tuỳ theo sàn nhà cao hay thấp. Người Tày Poọng không phân biệt chủ nhà, hoặc vợ ông chủ nhà, khi chết tất cả thi hài đều được đưa ra khỏi nhà như vậy. Đây là điểm khác biệt giữa tập quán tang ma của người Tày Poọng với người Đan Lai và các nhóm địa phương khác thuộc cộng đồng dân tộc Thổ.
Xưa kia, quá nghèo khổ nên ở người Tày Poọng không có vải khâm liệm và dùng trong việc làm ma cho người chết. Ngày nay, tang phục của họ làm bằng vải màu trắng giống như người Tày Thanh, Tày Mười, Tày Hàng Tổng... Nếu không đủ vải trắng, có thể dùng một mảnh vải trắng nhỏ, cắt thành hình người khâu vào sau lưng áo. Con dâu và con gái chưa chồng cũng để tang như con trai. Hiện nay, con gái có chồng chỉ mặc một chiếc áo trắng, riêng con rể và các cháu không phải vận tang phục... Nếu chồng chết vợ phải mặc cả bộ tang màu trắng, và nếu vợ chết chồng cũng mặc tang phục như vậy.
Khi còn để thi thể người quá cố trong nhà, nếu có quần áo mới thì mặc quần áo cho người chết, trường hợp quá nghèo không có quần áo mới thì lấy vỏ cây che lại. Nhà khá giả dùng hai con dao cắm cạnh thi thể người chết, một con ở phía đầu và một con ở phía chân. Nhà nghèo chỉ cắm một con dao ở phía đầu, nếu nghèo quá không có dao thì không cắm. Trên mỗi con dao thắp một ngọn đèn làm bằng rẻ rách tẩm sáp ong, trường hợp không có dao thì đặt ngọn đèn này xuống sàn nhà. Theo tập quán, người Tày Poọng đặt tất cả các loại nồi, niêu, bát đũa, mâm, gùi, giỏ... ngay bên cạnh thi thể người chết. Nhà khấm khá còn chia cho người quá cố cả những tài sản có giá trị trong nhà. Theo quan niệm của họ, làm như thế là nhằm thông báo cho người chết biết, sau này thành ma, họkhông quay trở về đòi con cháu. Khi đưa ma, những thứ đồ dùng chung của cả nhà thì để lại cho những người còn sống dùng, đồ đạc tư trang riêng của người chết đem theo, và đặt tại mộ trả họ.
Trong thời gian chưa đưa thi thể đi chôn, họ cúng cơm, thịt và nước uống cho người chết vào các bữa ăn thường ngày, như khi họ còn sống. Bữa đầu tiên (hlếch) phải có một ống cơm lam (cờm hừng) và một con gà nhỏ nướng chín (tà cắp). Người khấn mời người chết về ăn cơm lần này có thể là con trai trưởng, hoặc con trai thứ. Nội dung lời khấn: Ông, bà (bố, mẹ) chết rồi, không sống lại được nữa, từ nay không ở nhà với vợ con nữa, tôi có ống cơn lam này, con gà này, bát rượu này... mời ông, bà (bố mẹ) về ăn, rồi phù hộ cho con cháu, để con cháu làm ma cho ông, bà (bố, mẹ)... Con gà làm lễ mời ăn bữa đầu tiên đó cứ để vậy, khi chôn cất xong sẽ đặt trên mộ. 
Cũng như người Đan Lai, trước đây người Tày Poọng không để người chết lâu ngày trong nhà. Nếu chết lúc 5, 6 giờ sáng thì đến 9, 10 giờ phải đem đi chôn cất; chết vào 13, 14 giờ chiều thì khoảng vài 3 giờ sau phải đưa đi chôn; nếu người chết tắt thở vào ban đêm, đến sáng hôm sau đem đi chôn... Hiện nay, do ảnh hưởng các cộng đồng láng giềng khác, cũng có trường hợp họ để người chết trong nhà từ sáng đến chiều, thậm chí lâu hơn để đợi anh em, người thân... Khi còn quàn tại nhà, con rể phải có một con lợn cúng ma người chết, sau đó làm cỗ mời những người đã giúp làm quan tài, đào huyệt và khiêng thi hài đi chôn cất. Trường hợp trong bản không đủ người khiêng thi hài thì con rể phải có nhiệm vụ trợ giúp việc này. Nếu người chết không có con rể, gia đình có đám phải tự lo cỗ cúng ma người chết, mời những người tham gia giúp đỡ việc tang ma và những người đến phúng viếng.
Trước khi đưa đi chôn, người Tày Poọng có tập quán chọn giờ đưa ma đi. Thông thường các đám đều phải nhờ thầy cúng hoặc thày bói xem giúp. Xem giờ đi làm ăn, dựng nhà, cưới xin và đưa ma... họ đều dùng bảng xem giờ (tà nham) để chọn giờ. Đó là bảng làm bằng một mảnh gỗ nhỏ, hình vuông, chia đều làm 25 ô. Đồ xem giờ này của họ cũng tương tự như chiếc cà na của nhiều tộc người khác (Khơ Mú, người Thái, người Hà Nhì...). Họ thường chọn giờ trùng vào các ô trống (chắp pọt) trên tà nham để đưa người chết đi chôn. Trước khi mang đi chôn, họ cúng cơm người chết một lần nữa. Thi thể người chết xưa kia được bó bằng chiếu (phúc sạt) đan bằng lá rừng theo kiểu lóng mốt (tán hắn), buộc lại bằng ba sợi dây ở đầu, thắt lưng và chân thi thể người chết. Sau đó, chuẩn bị một đoạn cây chắc do người trong làng, trong dòng họ hoặc con rể lên rừng tìm kiếm, để làm đòn khiêng người chết. Đòn khiêng được đặt luồn vào trong chiếu bó thi thể người chết. Khi khiêng từ nhà ra đến huyệt, người chết vẫn được mặc quần áo hoặc quấn chiếu, còn mặt thì được che bằng lá cây. Khi đưa người chết đi qua vách mới phá và cầu thang mới làm vẫn phải để nguyên chưa được giỡ bỏ. Khi đưa ma đi, họ tháo ba phên tranh ở trên mái nhà để mang theo. Trong đám đưa ma, con trai cả đi trước dẫn đầu, sau đó là hai người khiêng thi hài, rồi đến con cháu và người mang các đồ vật cho người chết, sau cùng là những người đi đưa ma và trợ giúp các công việc chôn cất. Không giống một số nhóm Thổ khác (Kẹo, Mọn, Cuối, Lâm La, Đan Lai...), ở người Tày Poọng khi đưa ma con cháu không phải thực hiện nghi thức lăn đường. Họ không dùng cờ hiệu và kèn trống, khi đưa ma. Theo tập quán, trên đường đưa ma đi chôn, họ thường không nghỉ, nếu đường xa cần phải nghỉ, họ dùng gậy chống lên, đỡ đòn khiêng thi hài, nhưng vẫn phải để đòn trên vai những người khiêng.
Khi đến nơi chôn cất, họ đặt thi thể xuống đất rồi dùng trứng gà chọn chỗ đào huyệt. Công việc này thường do một cụ già có kinh nghiệm đảm nhiệm. Ông ta phải khấn thông báo ma người chết rồi mới tung hoặc ném một quả trứng lên cao để nó tự rơi xuống đất. Nội dung lời khấn: ông (bà) hãy chứng kiến, tôi lấy quả trứng này chọn nhà cho, nếu thích thì làm cho trứng vỡ, trường hợp không thích thì chọn chỗ khác... Nếu trứng rơi và vỡ ở chỗ nào thì đào huyệt ở chỗ đó. Trường hợp thấy trứng rơi mà không vỡ, khấn lại và ném tiếp quả trứng đó vào chỗ khác. Theo tập quán của người Tày Poọng, huyệt chôn người chết chỉ đào sâu bằng một vai và một tay, tức là sâu khoảng 2/3 sải tay (plạt) người lớn (khoảng 1m). Cùng với việc đào huyệt, một số người khác chuẩn bị phên nứa làm hòm. Phên nứa thường đan sáu tấm lóng đôi ghép lại thành chiếc hòm như quan tài. Cũng có trường hợp họ không đan, phên chỉ đập dập nứa lót xuống huyệt rồi cho thi hài xuống. Hiện nay, những gia đình khá giả đã dùng quan tài gỗ để chôn cất người chết.
Khi chuẩn bị xong huyệt và hòm, họ hạ thi hài xuống huyệt. Cũng có dòng họ (như họ Viêng chẳng hạn), cởi bỏ hết quần áo trên người quá cố rồi mới cho xuống huyệt sau đó lấy lá cây rừng phủ mặt người chết rồi mới úp phên nứa lên. Đa số các họ vẫn để người chết mặc quần áo khi hạ huyệt. Khi hạ huyệt họ không tổ chức cúng lễ và cũng không có kèn trống. Con trai hoặc con rể lấp đất trước, nếu con chết thì cha mẹ lấp đất trước, sau đó mọi người trợ giúp. Huyệt được lấp cao bằng mặt đất, không đắp thành nấm. Nhà mồ được làm bằng cách cắm que xung quanh mộ theo dạng đan mắt cáo (phay ta lạt), rồi đặt ba phên tranh (mang theo từ nhà) lên làm mái. Nếu bố mẹ chết thì ba phên tranh này được tháo ở trên mái nhà đối diện với nơi có bàn thờ ma nhà, nếu cháu hoặc con dâu chết thì những tranh đó được lấy ở trên mái bếp. Cuối cùng, họ để cơm, nước và thức ăn ở cạnh mộ, các đồ dùng đã chia cho người chết thì đem đốt hoặc đập vỡ. Phía đầu và cuối mộ họ thường đặt hai hòn đá giống như nhóm Đan Lai.
Trước khi đi về, tất cả mọi người có mặt trong lễ chôn cất đứng quanh mồ để một ông mo gọi vía người sống về theo. Khi ra về, họ đi một mạch, không quay mặt nhìn lại mồ người chết, do sợ ma người chết theo. Về gần tới nhà họ xuống khe rửa chân tay, rửa những dụng cụ đã dùng vào việc chôn cất. Sau ba ngày, các con trai người quá cố mới được tắm rửa và làm vệ sinh nhà cửa.
3. Những nghi lễ sau khi chôn cất
Khi về những người tham gia lễ chôn cất người qua cố về đến nhà, ông mo đứng đợi sẵn ở chân cầu thang, dùng hai chân con gà đang còn sống, cào vào vai của hai người đã khiêng thi hài ra huyệt. Sau đó, họ thịt con gà đó làm lễ cúng vía cho hai người khiêng. Cúng xong, hai người khiêng phải ăn hết con gà đó. Đồng thời, họ giết lợn làm vía cho những người còn sống. Theo tập quán, họ lấy gan con lợn đó chia làm hai hoặc ba phần, để đưa ra mộ cùng các đồ ăn khác. Nếu người chết có từ một đến hai con trai thì phải đưa cơm ra mộ cho ma trong hai ngày: ngày đầu đưa đến đầu bản thì đặt cơm và thức ăn ở cạnh đường, ngày thứ hai đưa ra đến mộ. Trường hợp người chết có ba con trai trở lên thì phải đưa cơm trong ba ngày: ngày đầu để ngay tại cửa nhà ở, ngày thứ hai đưa đi đặt ở giữa đường, ngày thứ ba đặt cạnh mộ. Khi đưa cơm đến mộ, người đưa cơm khấn xin người quá cố được chọn ngày tốt để về nhà làm ma tổ tiên. Từ đó, họ kiêng không đến và không được động chạm đến mộ nữa. Chính vì thế mà rừng ma (đông hẻo) của người Tày Poọng cây cối bao giờ cũng xanh tốt, mọc um tùm.
Những ngày sau khi chôn cất người quá cố, con rể, hoặc con trai hoặc con gái (nếu không có rể), phải đốt một đống lửa ở chân cầu thang đưa ma đi. Đống lửa đó phải được đốt liên tục cho đến khi đưa cơm ra mộ lần cuối cùng. Sau lần cuối đưa cơm ra mộ, con rể hoặc dân bản giúp gia chủ phá bỏ cầu thang đưa ma, làm lại vách, dọn dẹp đống lửa. Có thể nói rằng, ở người Tày Poọng, con rể có vai trò rất quan trọng đối với việc chôn cất bố, mẹ vợ. Đây chính là điểm khác biệt giữa người Poọng với các nhóm người Thổ khác.
Khác với các nhóm: Kẹo, Mọn, Cuối và Lâm La... người Tày Poọng không cúng giỗ ba ngày, 50 ngày và 100 ngày. Theo ông Vi Văn Minh, người Tày Poọng ở Bản Phồng (xã Tam Hợp, huyện Tương Dương, Nghệ An), nếu làm đúng tập quán thì con cái người Tày Poọng ở nơi đây để tang bố mẹ trong ba năm và ba tháng. Nay thì tập quán này đã bị mai một, do hiếm quần áo nên có khi họ phải mặc cả đồ tang khi đi làm ăn hằng ngày. Hiện nay, họ chỉ để tang trong ba tháng. Khi hết tang họ không làm lễ mãn tang như một số tộc người khác. Trong thời gian để tang những người có tang kiêng không được hát hò, không leo cây và không cưỡi trâu.
4. Một vài nhận xét
Tang ma của người Tày Poọng cũng có nhiều yếu tố giống với tang ma của một số nhóm địa phương thuộc cộng đồng dân tộc Thổ, nhất là nhóm Đan Lai. Trải qua nhiều thế kỷ du canh du cư, nghèo đói và bệnh tật, lang thang trong các cánh rừng biên giới Việt - Lào thuộc vùng giáp giới miền tây Nghệ An, cuộc sống của họ nói chung và tập quán tang ma của họ nói riêng, tương đối đơn giản. Nghi lễ tang ma cho người quá cố xưa kia đối với họ, có lẽ chỉ đơn thuần là chôn cất. Tuy vậy, tập quán đó đã phần nào phản ánh các đặc trưng văn hoá truyền thống trong những bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của họ.
Do cư trú xen kẽ với cộng đồng Tày Thanh (Thái Thanh), nên họ đã chịu ảnh hưởng và tiếp thu nhiều yếu tố văn hoá của cộng đồng này. Nghi lễ tang ma của họ cũng vì thế mà có nhiều nét tương đồng với nhóm Tày Thanh. Biểu hiện rõ nhất, đó là vai trò và trách nhiệm của những người con rể trong đám tang của họ; phá vách, làm cầu thang mới để đưa ma ra khỏi nhà; lấy các phên tranh trên mái nhà mang ra làm mái nhà mồ; chôn đá ở dầu và cuối phần dương mộ người quá cố... Hiện tượng này không thấy tồn tại trong tập quán tang ma của các nhóm Thổ khác (Kẹo, Mọn, Cuối, Lâm La).
Nếu so sánh với người Đan Lai (một nhóm địa phương thuộc dân tộc Thổ, sinh sống ở miền tây Nghệ An), tập quán tang ma của người Tày Poọng có nhiều nét tương đồng. Điều đó thể hiện ở cách thức tổ chức tang lễ, sự đơn giản của các nghi thức chôn cất, các nghi thức sau khi chôn cất... Ngoài các yếu tố kinh tế - xã hội tiềm ẩn trong bản thân hai cộng đồng này, rất có thể họ đều chịu chung ảnh hưởng từ tập quán tang ma của một số cộng đồng nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Lào. Trong thực tiễn cả hai nhóm này đều có thời gian cư trú khá dài ở bên đất Lào.
Trong tang lễ của người Tày Poọng không có các nghi thức mo, không dùng văn mo..., mặc dù họ sống cận kề cùng nhóm Tày Thanh, một cộng đồng có rất nhiều văn mo và trong tang lễ có thể làm mo nhiều ngày. Điều này có thể là một biểu hiện chứng tỏ sự phát triển còn thấp của các tri thức thuộc phạm trù văn hoá, xã hội, tri thức dân gian của họ, song mặt khác, nó cũng là sự biểu hiện tính cố kết cộng đồng về văn hoá của họ.
Ngày nay, tập quán tang ma của người Tày Poọng đã thay đổi rất nhiều. Tuy vậy, các yếu tố truyền thống không vì thế mà hoàn toàn mai một. Nó đang được họ cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh của cuộc sống mới.
T.B - L.H.S 
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Viện Dân tộc học. Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975.
2. Viện Dân tộc học. Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
3. Nguyễn Đổng Chi (và các cộng sự), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, Vinh, 1995.
4. Ninh Viết Giao, Địa chí huyện Tương Dương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
5. Ninh Viết Giao, Về văn hoá xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, Vinh, 2003.
6. Khổng Diễn, Dân số và dân số học tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.
7. Vi Văn An, "Tục lệ tang ma của nhóm Tày Mười ở miền tây Nghệ An", Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1, 1994.         
 


(*), (**) Viện Dân tộc học


Các tin khác :

  • Nhìn lại tình hình sưu tầm, nghiên cứu tín ngưỡng và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam
  • Lễ hội "Xến Xó Phốn" của người Thái vùng Tây Bắc

  •   SỰ KIỆN NỔI BẬT

    » Nhà dài Ê Đê

    » Thông báo tuyển sinh đào tạo trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ của Học Viện Khoa học xã hội

    » Vai trò của văn học dân gian đối với văn học viết thời Đại Việt

    » Viện Nghiên cứu văn hoá 30 năm xây dựng và trưởng thành

    » Lễ bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi)" của NCS. Nguyễn Lan Hương

    » Một bản luận án tiến sĩ nhân học mới được bảo vệ tại Hoa Kì

    » Nhận diện sử thi Xơ Đăng

    » Nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Mơ Nông

    » Đề nghị Báo Tuổi trẻ cải chính những thông tin không chính xác về sử thi Tây Nguyên

    » Nhà ở của người Xơ Đăng

    » Những tri thức thiếu chính xác và một số điều cần trao đổi trong những cuốn sách viết về văn hoá Việt Nam

    » Xét duyệt đề cương tập 2 của bộ "Lịch sử văn hóa Việt Nam"

    » Quyết nghị của Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ

    » The Collection and Theorization of Epics in Vietnam

    » Quá trình sưu tầm và nhận thức lý luận đối với sử thi ở Việt Nam

    » Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam

    » Thông báo mời tham dự Hội nghị Thông báo văn hoá năm 2008

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Trò diễn trong lễ hội dân gian của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ" của NCS. Đặng Hoài Thu

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ"

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Tín ngưỡng Hai Bà Trưng ở vùng châu thổ sông Hồng"

    » Hội thảo khoa học "Văn hoá, văn nghệ dân gian các dân tộc Cao Bằng trong sự nghiệp đổi mới"

    » Hội nghị thông báo văn hoá năm 2008

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học: Lễ hội làng Lệ Mật của Nghiên cứu sinh Tạ Duy Hiện

    » Nghiệm thu cấp cơ sở Tiểu dự án 2, Tiểu dự án 3 thuộc Dự án sử thi Tây Nguyên

    » Họp báo công bố bộ sử thi lớn nhất Việt Nam

    » Thông báo tuyển sinh sau đại học chuyên ngành: Văn hoá học và văn hoá dân gian năm 2008

    » Một cách tiếp cận về lịch sử văn hoá Việt Nam

    » Viết lịch sử văn hoá Việt Nam: Lí luận phải đi trước một bước

    » Ảnh hưởng của văn học chữ Hán Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt

    » Quá trình thành lập và phát triển

    » Danh mục sách đã xuất bản từ 1979 đến 2007

    » Đối tượng nghiên cứu của khoa văn hoá dân gian

      LIÊN KẾT

    Viện Khoa học xã hội Việt Nam

    Đại học Văn hoá Hà Nội

    Bảo tàng Dân tộc học VN

    APEC Việt Nam 2006

    Chính sách văn hóa Thái Lan

         

    Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Văn hóa (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)

    Giấy phép số 499/GP-BC ngy 15/11/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thng tin ln mạng Internet
    Người chịu trách nhiệm chính: GS.TS. Nguyễn Xuân Kính
    Địa chỉ: 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, Việt Nam. Email: vienncvh@fpt.vn
    Điện thoại: 04. 9784868. Fax: 04. 9725903. .