Tiếng Việt

English



Tìm kiếm   


THĂM DÒ Ý KIẾN
Bạn có quan tâm đến văn hóa dân gian không?
Rất quan tâm
Quan tâm
Không quan tâm
 
WBREU    
  Mã xác nhận:
    Xem Kết quả


CHECK MAIL
Email
Password





236696 lượt truy cập
1 người online

Phong tục lễ hội

Sự tham gia của các hình thức dịch vụ trong lễ cưới ở Trịnh Xá (Bình Lục, Hà Nam)
Tin đưa ngày 3/7/2007

Nguyễn Thị Phương Châm(*)
Tháng 8 năm 2003, trong khuôn khổ của khoá học Phương pháp nghiên cứu liên ngành KHXH do Viện KHXH Việt Nam và Hội đồng khoa học Hoa Kỳ tổ chức, chúng tôi đã tiến hành điều tra đời sống văn hoá xã hội của xã Trịnh Xá (Bình Lục, Hà Nam) bằng cả phương pháp định lượng (với bảng hỏi cho 286 hộ ở tất cả các thôn trong xã) và định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung cho 30 cá nhân cho riêng chủ đề về lễ cưới). Tiếp đó, trong hai năm 2004 và 2005, xuất phát từ mối quan tâm của bản thân, chúng tôi tiếp tục có những đợt điền dã tại Trịnh Xá để tìm hiểu về lễ cưới ở đây.
Trịnh Xá là một xã nông nghiệp thuộc vùng trũng có diện tích tự nhiên là 608,12ha, đất canh tác là 483,19ha, dân số 5.500 người chủ yếu là người Kinh. Qua một số lần tách, nhập các thôn, từ năm 1955 đến nay Trịnh Xá ổn định với 8 thôn: Tràng, Thượng, Nguyễn, Bùi, Hoàng Xá, An Cư, Đôn Trung, Đôn Vượt.
Ngoài làm nông nghiệp dân trong xã có nghề phụ là mộc, thêu, ren trong đó nghề mộc ở làng Bùi có truyền thống lâu đời. Từ những năm 90 trở lại đây, một nghề mới của xã là lên thành phố làm ăn theo thời vụ. Cả xã có 5 dòng họ lớn là: Đoàn, Đỗ, Trần Ngọc, Chu, Trần Hữu. Hệ thống di tích trong xã khá dày với những công trình kiến trúc đặc sắc trong đó đình Bùi là ngôi đình trưởng của xã đã được công nhận là di tích lịch sử.
Đời sống của dân chúng trong xã ngày càng phát triển ổn định. Thu nhập bình quân tại thời điểm chúng tôi điều tra 8/2003 là 2.587.200đ/người/năm.
Lễ cưới ở Trịnh Xá mang nét đặc trưng văn hoá của nông thôn vùng châu thổ Bắc Bộ. Nghi lễ ấy cũng có sự biến đổi rõ rệt qua các giai đoạn lịch sử. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này chúng tôi quan tâm đến sự tham gia của các hình thức dịch vụ trong lễ cưới. Điều này ghi nhận sự biến đổi của lễ cưới truyền thống trong xã hội hiện đại và cũng ghi nhận sự biến đổi của một làng quê truyền thống trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Trình tự một lễ cưới ở Trịnh Xá thường bao gồm: lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ nạp tài, lễ đón - đưa dâu và lễ lại mặt. Ngoài ra còn không thể thiếu được vai trò quan trọng của giai đoạn chuẩn bị trước khi thực hành các nghi lễ. Những nghi lễ này ở Trịnh Xá được thực hiện theo một trình tự thời gian rất nghiêm túc và tuân thủ những phong tục truyền thống của lễ cưới vùng nông thôn của châu thổ Bắc Bộ. Từ sau khi thống nhất đất nước 1975, Trịnh Xá cũng như nhiều làng quê khác xây dựng và duy trì mô hình Hợp tác xã nông thôn với sự đề cao tinh thần tập thể. Theo đó lễ cưới ở đây có nhiều biến đổi theo hướng đơn giản hoá, tiết kiệm và xuất hiện hình thức cưới theo tập thể, do tập thể tổ chức. Cho đến giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 trở lại đây, lễ cưới ở Trịnh Xá lại tiếp tục có những sự biến đổi mạnh mẽ theo hướng phục hồi và thích ứng với bối cảnh xã hội mới. Sự biến đổi ấy đặc biệt rõ rệt từ cuối những năm 90 trở lại đây. Một trong những sự biến đổi rõ rệt ấy là sự tham gia của các hình thức dịch vụ vào lễ cưới. Dịch vụ chỉ xuất hiện trong lễ cưới ở Trịnh Xá từ những năm 90 trở lại đây. Trước kia người dân Trịnh Xá luôn tổ chức cưới tại gia và gia chủ cùng họ hàng thân thích, bạn bè lo toàn bộ các công việc tổ chức, làm lễ, làm cỗ,... cũng có thể gia chủ phải trả công cho những người giúp đỡ nhưng điều đó chưa trở thành hình thức dịch vụ rõ rệt như hiện nay.
Hiện nay, dịch vụ đã trở thành một nhân tố không thể thiếu trong lễ cưới ở Trịnh Xá và theo suốt trình tự của lễ cưới đó.
Trong giai đoạn chuẩn bị lễ cưới, hình thức dịch vụ xuất hiện đầu tiên là việc đi xem bói, xem tuổi, xem ngày giờ để tiến hành các nghi lễ. Mặc dù việc đi xem bói này được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, có gia đình tự xem qua các cuốn sách về việc xem ngày tốt như: Lịch vạn sự, cách tính tuổi,... có gia đình nhờ người quen xem hộ,... nhưng cách phổ biến hiện nay vẫn là gia đình người tổ chức cưới mang tiền hoặc lễ vật đến nhà thày bói xem. Theo thời giá năm 2003, 2004, dịch vụ này tốn khoảng 30 - 50.000đ. Việc xem bói trước lễ cưới đã có từ xa xưa nhưng để trở thành một hình thức dịch vụ thì chỉ đến giai đoạn hiện nay mới xuất hiện và ngày càng phát triển.
Việc chuẩn bị thực phẩm và lo dựng rạp, sắp xếp bàn ghế cũng là một khâu quan trọng trước lễ cưới. Hiện nay, công việc này cũng được người dân Trịnh Xá thuê dịch vụ. Nếu gia chủ mổ lợn thì họ sẽ thuê người về nhà mổ và chế biến luôn (xay giò, làm chả,...), nếu gia chủ không mổ lợn thì có thể đặt toàn bộ những thực phẩm cần thiết: từ thịt gà, lợn, bò, chim bồ câu cho đến các loại rau đậu khác. Họ thường đặt trước chủng loại, còn số lượng cụ thể thì đến tận sáng ngày cưới mới quyết định chính xác. Người dân Trịnh Xá cũng thuê dựng rạp, các thiết bị âm thanh và trang trí phông bạt. Tuy vậy, thuê trang âm hoặc máy thu hình cũng chưa phổ biến ở đây (Tính đến 8/2003 tỉ lệ này mới là 31.2%). Trong vài năm gần đây đã xuất hiện việc thuê ban nhạc sống về hát trong đám cưới ở Trịnh Xá, mặc dù mới chỉ có 2/93 lễ cưới mà chúng tôi khảo sát có hiện tượng này nhưng đã báo hiệu một cách tổ chức đám cưới kiểu mới ở đây.
Hiện nay, do nhu cầu đơn giản và thuận tiện cho việc tổ chức cưới, các lễ cưới thường thực hiện lễ dạm ngõ và lễ ăn hỏi vào cùng một ngày, có gia đình còn gộp luôn cả lễ ăn hỏi và lễ nạp tài vào một ngày. Trước đây lễ vật đem đến nhà gái trong các lễ này thường được đựng vào mâm phủ vải đỏ đội đi nhưng hiện nay người dân Trịnh Xá đã thuê các hộp đựng (được gọi là quả cưới) cho việc này.
Nếu như trước năm 1986, không có cô dâu nào ở Trịnh Xá (nằm trong số 93 đám cưới mà chúng tôi khảo sát) sử dụng trang phục là váy cưới theo kiểu phương tây và áo dài cũng chỉ có 2/93 thì hiện nay, đặc biệt là những năm 2000 trang phục váy cưới hiện đại trong lễ cưới và áo dài trong lễ ăn hỏi đã trở nên phổ biến và được hầu hết các cô dâu sử dụng. Vì vậy, dịch vụ cho thuê áo cưới, áo dài cho cô dâu, veston cho chú rể cũng trở nên phổ biến. Đi cùng với loại trang phục này là việc thuê trang điểm cô dâu, chú rể, thuê trang trí phòng cưới.
Lễ cưới ở Trịnh Xá hiện nay không còn cảnh gia chủ phải tất bật đi nhờ cậy họ hàng bạn bè để mượn xoong nồi, bát đĩa, và nấu nướng tất bật nữa. Đã xuất hiện ở làng quê này một đội ngũ nấu cỗ thuê chuyên nghiệp, họ lo trọn gói từ việc chuẩn bị thực phẩm cho đến việc bày mâm và dọn dẹp theo yêu cầu của gia chủ.
Dịch vụ chụp ảnh, quay phim cũng đã trở nên quen thuộc và dường như là nhu cầu không thể thiếu trong các lễ cưới hiện nay. 100% các đám cưới hiện nay có thuê chụp ảnh và 48% thuê quay băng video.
Đáng chú ý là người chủ hôn trong đám cưới ở Trịnh Xá hiện nay cũng có thể được thuê. Những người giỏi ăn nói, có tài pha trò, hài hước luôn được thuê vào vị trí chủ hôn để tạo không khí vui tươi cho đám cưới.
Như vậy, các hình thức dịch vụ tham gia vào hầu hết các khâu tổ chức, từ hình thức đến nội dung, từ tinh thần đến vật chất trong lễ cưới ở Trịnh Xá. Theo thời giá của tháng 8/2003 nếu một đám cưới thuê toàn bộ các loại dịch vụ như chúng tôi kể ra ở trên thì sẽ tốn trung bình khoảng 1.000.000đ. Nhưng theo thời giá tháng 8/2005 thì mức chi phí dịch vụ đó trung bình là 1.300.000đ - 1.500.000đ. Mức chi phí này so với mức sống của người dân Trịnh Xá là cao và không ít người cho đó là sự tốn kém quá mức, là sự lãng phí nhưng nếu xem xét phí dịch vụ ấy trong sự hạch toán thu chi của một lễ cưới thì sẽ thấy yếu tố hợp lý của nó. Do có sự hỗ trợ của cộng đồng thông qua quà mừng, gia đình tổ chức đám cưới huy động được nguồn lực từ mạng lưới quan hệ của họ nên họ vẫn hoàn toàn có khả năng chi trả những loại phí dịch vụ trên. Do tầm quan trọng của sự hỗ trợ này mà mỗi người dân Trịnh Xá, mỗi gia đình ở Trịnh Xá thường rất tự nguyện tham gia vào việc xây dựng, trao đổi, duy trì và củng cố mạng lưới quan hệ trong nội bộ làng xã và bên ngoài để huy động được nguồn lực từ mạng lưới đó mỗi khi gia đình có việc, đặc biệt là lễ cưới.
Liên quan đến việc xuất hiện và sự phát triển của các hình thức dịch vụ trong lễ cưới ở Trịnh Xá hiện nay, điều mà chúng tôi quan tâm là bối cảnh xã hội nào đã khiến cho các hình thức dịch vụ trong lễ cưới xuất hiện và được người dân ở một làng quê vốn thuần nông như Trịnh Xá chấp nhận và làm cho nó phát triển mạnh mẽ như hiện nay?
Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam được tính từ sau năm 1986 nhưng thực sự phải đến những năm 90 thì công cuộc đó mới tác động đáng kể tới các vùng nông thôn Việt Nam. Giai đoạn 1986 đến 1990, Người dân Trịnh Xá sản xuất nông nghiệp là chính, đời sống kinh tế của dân thấp, bình quân lương thực trên đầu người vào khoảng 480kg/người/năm. Xã chủ yếu là hộ nghèo, hộ đói chiếm khoảng 30%, không có điện dùng cho sinh hoạt. Từ sau năm 1990, nhất là cuối những năm 90, đầu những năm 2000, Trịnh Xá có những sự đổi mới rõ rệt với sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, chính sách giao đất đến tận nông dân, sự xuất hiện của các ngành nghề phi nông nghiệp giải quyết được từ 5 - 7% lao động lúc nông nhàn, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, 100% hộ được sử dụng điện, không còn hộ đói, chỉ còn 9% hộ nghèo, dân chúng được tiếp cận với đa dạng các nguồn thông tin. Đặc biệt hiện nay xuất hiện và phát triển của một lực lượng lao động không nhỏ của xã đi làm ăn xa ở các thành phố. Có 128 hộ/286 hộ mà chúng tôi điều tra có tham gia vào việc đi làm ăn xa, số khẩu đi làm ăn xa chiếm 23,2% tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động của xã. Trong số đó 63,4% số dân đi làm ăn xa ở Trịnh Xá chọn nơi đi làm là nội thành Hà Nội, 15,4% chọn nơi đến làm là các đô thị khác, còn lại là các vùng khác. Những người đi làm ăn xa ở Trịnh Xá đã đóng góp một phần đáng kể là 11,69% trong thu nhập của hộ gia đình, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp đóng góp 20,1%.
Chính đội ngũ đi làm ăn xa của Trịnh Xá này đã kéo làng quê này gần hơn với các đô thị và cũng gần hơn với các loại hình văn hoá đô thị. Những thông tin và lối sống đô thị đã có những tác động không nhỏ đến nhận thức và lối sống của người dân Trịnh Xá, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp vào lễ cưới. Đời sống kinh tế khá lên, người nông dân Trịnh Xá có điều kiện quan tâm hơn đến các nghi lễ và họ cũng không còn quá khó khăn để chi trả những khoản chi phí dịch vụ. Mặt khác, làng xã đã không còn thuần tuý làm nông nghiệp nữa, bộ phận đi làm ăn xa có tiền gửi về hoặc trực tiếp trở về làng ngày càng nhiều dẫn đến nhu cầu về các loại hình dịch vụ tăng. Điều này đã làm xuất hiện một bộ phận dân cư tại làng có thể kiếm sống bằng các nghề dịch vụ. Thêm nữa, do giao thông ngày càng thuận tiện, từ Trịnh Xá ra trung tâm huyện Bình Lục chỉ 7km hoặc lên thẳng Hà Nội cũng chỉ 70km với 2h đi ô tô khiến cho lối sống, văn hoá của thủ đô và các đô thị gần đó không xa lạ với người dân nơi đây.
Trong bối cảnh xã hội như vậy, các hình thức dịch vụ trong lễ cưới nói riêng và trong đời sống sinh hoạt nói chung đã có chỗ đứng và có điều kiện phát triển ở Trịnh Xá. Trong quá trình thu thập thông tin chúng tôi cũng quan tâm đến thái độ của người dân nơi đây với sự phát triển của các loại hình dịch vụ trong lễ cưới. Tất cả 30 cá nhân mà chúng tôi đã phỏng vấn sâu và cùng thảo luận nhóm tập trung đều cho khẳng định sự tiện lợi của các hình thức dịch vụ trong lễ cưới: “Bây giờ tiện lợi lắm, chẳng phải lo mượn bàn ghế, bát đĩa, xoong nồi, ấm chén gì cả, hồi xưa thời tôi cưới cả nhà khổ vì lo những chuyện ấy, khổ khổ là. Nhìn vào số tiền thì thấy nhiều đấy nhưng nếu tính cái công của bao nhiêu người bỏ ra thì thấy thuê lại là tiện nhất” (ông Dựa 62 tuổi, ông Thắng 58 tuổi, ông Sơn 58 tuổi,...). Còn lớp trẻ thì càng ủng hộ và mong muốn các dịch vụ này ngày càng chu đáo, đầy đủ và tiện lợi hơn: “Nếu không có những dịch vụ đó thì bọn em khổ lắm, cứ dịch vụ hết vừa tiện, vừa khoẻ cả nhà, nên đám cưới bọn em nhẹ nhàng hẳn đi. Chỉ mỗi tội dịch vụ đó ở làng còn ít quá mà cũng chưa thật tốt và không tiện lắm, thuê váy cưới ra huyện cũng tiện nhưng nếu ở ngay làng có thì vẫn tốt hơn” (chị Thuý 26 tuổi, chị Nhàn 29 tuổi, chị Hoa 32 tuổi,...). Tuy vậy cũng không phải không còn những ý kiến phàn nàn về sự lãng phí không cần thiết của việc thuê váy cưới đắt tiền, chụp ảnh nhiều quá, ăn uống linh đình thừa thãi quá,... trong nhiều đám cưới hiện nay.
Nhìn chung sự tiện ích của các loại hình dịch vụ trong lễ cưới ở Trịnh Xá đã được người dân nơi đây khẳng định và chấp nhận. Nhưng bên cạnh đó các loại hình dịch vụ này cũng làm cho lễ cưới ở Trịnh Xá ít nhiều mất đi dáng vẻ truyền thống của nó, hay nói cách khác là mai một dần đi nét đặc trưng của lễ cưới vùng nông thôn Bắc Bộ. Mỗi đám cưới không còn là sự kiện quan trọng nổi bật của làng với sự quây quần chuẩn bị và nấu nướng nữa, nó diễn ra nhanh gọn hơn và cũng lặng lẽ hơn, cá nhân hơn. Theo đó tính cố kết cộng đồng có phần giảm dần. Thêm nữa xuất hiện trong các lễ cưới những sự đua đòi, ganh tỵ trong việc ăn mặc, cỗ bàn, việc chụp ảnh, quay phim hay trang trí,... dẫn đến những sự lãng phí không cần thiết và gây mất đoàn kết trong cộng đồng, nhiều khi tạo ra sức ép không tốt cho các lễ cưới khác.
Xã hội biến đổi, cơ cấu kinh tế văn hoá ở Trịnh Xá cũng biến đổi, lễ cưới cũng như vậy, nó cũng thâu nhận vào nó những yếu tố văn hoá mới, những khía cạnh mới của kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra với lễ cưới nói riêng và với văn hoá ở Trịnh Xá nói chung là làm thế nào để điều tiết hợp lý được những yếu tố văn hoá mới đã thâu nhận đó và hướng chúng thích nghi hài hoà với đời sống dân chúng hiện nay, tạo nên nét văn hoá nghi lễ mới trong xã hội hiện đại.

N.T.P.C

(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)



(*) Viện Nghiên cứu văn hóa. Tác giả bảo vệ luận án TS ngày 20/9/2005. 


Các tin khác :

  • Tập quán tang ma của người Tày Poọng ở Tương Dương, Nghệ An
  • Nhìn lại tình hình sưu tầm, nghiên cứu tín ngưỡng và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam
  • Lễ hội "Xến Xó Phốn" của người Thái vùng Tây Bắc

  •   SỰ KIỆN NỔI BẬT

    » Nhà dài Ê Đê

    » Thông báo tuyển sinh đào tạo trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ của Học Viện Khoa học xã hội

    » Vai trò của văn học dân gian đối với văn học viết thời Đại Việt

    » Viện Nghiên cứu văn hoá 30 năm xây dựng và trưởng thành

    » Lễ bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi)" của NCS. Nguyễn Lan Hương

    » Một bản luận án tiến sĩ nhân học mới được bảo vệ tại Hoa Kì

    » Nhận diện sử thi Xơ Đăng

    » Nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Mơ Nông

    » Đề nghị Báo Tuổi trẻ cải chính những thông tin không chính xác về sử thi Tây Nguyên

    » Nhà ở của người Xơ Đăng

    » Những tri thức thiếu chính xác và một số điều cần trao đổi trong những cuốn sách viết về văn hoá Việt Nam

    » Xét duyệt đề cương tập 2 của bộ "Lịch sử văn hóa Việt Nam"

    » Quyết nghị của Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ

    » The Collection and Theorization of Epics in Vietnam

    » Quá trình sưu tầm và nhận thức lý luận đối với sử thi ở Việt Nam

    » Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam

    » Thông báo mời tham dự Hội nghị Thông báo văn hoá năm 2008

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Trò diễn trong lễ hội dân gian của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ" của NCS. Đặng Hoài Thu

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ"

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Tín ngưỡng Hai Bà Trưng ở vùng châu thổ sông Hồng"

    » Hội thảo khoa học "Văn hoá, văn nghệ dân gian các dân tộc Cao Bằng trong sự nghiệp đổi mới"

    » Hội nghị thông báo văn hoá năm 2008

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học: Lễ hội làng Lệ Mật của Nghiên cứu sinh Tạ Duy Hiện

    » Nghiệm thu cấp cơ sở Tiểu dự án 2, Tiểu dự án 3 thuộc Dự án sử thi Tây Nguyên

    » Họp báo công bố bộ sử thi lớn nhất Việt Nam

    » Thông báo tuyển sinh sau đại học chuyên ngành: Văn hoá học và văn hoá dân gian năm 2008

    » Một cách tiếp cận về lịch sử văn hoá Việt Nam

    » Viết lịch sử văn hoá Việt Nam: Lí luận phải đi trước một bước

    » Ảnh hưởng của văn học chữ Hán Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt

    » Quá trình thành lập và phát triển

    » Danh mục sách đã xuất bản từ 1979 đến 2007

    » Đối tượng nghiên cứu của khoa văn hoá dân gian

      LIÊN KẾT

    Viện Khoa học xã hội Việt Nam

    Đại học Văn hoá Hà Nội

    Bảo tàng Dân tộc học VN

    APEC Việt Nam 2006

    Chính sách văn hóa Thái Lan

         

    Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Văn hóa (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)

    Giấy phép số 499/GP-BC ngy 15/11/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thng tin ln mạng Internet
    Người chịu trách nhiệm chính: GS.TS. Nguyễn Xuân Kính
    Địa chỉ: 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, Việt Nam. Email: vienncvh@fpt.vn
    Điện thoại: 04. 9784868. Fax: 04. 9725903. .