Lễ hội Lam Kinh là lễ hội lớn nhất ở Thanh Hóa và cũng là một trong những lễ hội lớn ở Việt Nam. Cùng với việc trùng tu, tôn tạo, xây dựng khu di tích Lam Kinh, lễ hội Lam Kinh hiện nay vẫn được duy trì. Việc phục hồi và tổ chức lễ hội Lam Kinh đang đặt ra nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ. Từ cái nhìn lịch sử về một lễ hội truyền thống chúng tôi hi vọng sẽ góp phần vào việc giải quyết vấn đề văn hóa lễ hội nói chung.
Thanh Hóa là đất phát tích của nhiều bậc vua chúa: Lê Hoàn, Lê Lợi, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn; nhưng chỉ có lễ hội Lam Kinh là có quy mô lớn, được tổ chức trọng thể và có sức sống lâu bền trong nhân dân. Đây là vấn đề không chỉ liên quan đến lịch sử, mà còn thể hiện tính nhân dân trong các lễ hội lịch sử ở Thanh Hóa.
Lam Sơn (Thọ Xuân - Thanh Hóa) là đất phát tích, nơi dựng nghiệp của dòng họ Lê Lợi, là cái nôi của khởi nghĩa Lam Sơn. Lam Kinh còn là Tây Kinh - kinh đô thứ hai (sau Đông Kinh) dưới vương triều hậu Lê. Đất phát tích của dòng họ đế vương đã có công bình ngô giữ nước, là nơi xây dựng đền miếu, lăng tẩm của vương triều Lê. Đây là cơ sở cho việc ra đời và duy trì lễ hội Lam Kinh.
Lễ hội Lam Kinh gắn với vương triều hậu Lê, được tổ chức ở khu điện miếu Lam Kinh, nhưng sự ra đời và phát triển của lễ hội này, đến nay vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu.
Các tài liệu xưa ghi chép về vương triều Lê, về Lam Kinh và các chuyến hạ quy Lam Sơn của các vị Hoàng đế triều Lê khá nhiều, nhưng không cho biết lễ hội Lam Kinh bắt đầu từ khi nào? Thuật ngữ “lễ hội Lam Kinh” là cách gọi của nhân dân để phân biệt lễ hội Lam Kinh với các lễ hội khác như: Lễ hội đền Bà Triệu, lễ hội đền Sòng, lễ hội cầu ngư ở các địa phương.
Quy luật phát triển của lễ hội dân gian cho thấy lễ hội truyền thống bao giờ cũng có hai phần, phần lễ và phần hội, chắc chắn bước đầu chỉ có phần lễ về sau mới có phần hội nhập vào.
Sau thắng lợi của sự nghiệp bình ngô, vương triều hậu Lê được thiết lập, việc tế lễ ở trại Như Áng xưa - nơi dòng họ của vương triều đã lập nên nghiệp đế, là việc quan trọng của triều đình. Từ khi Lê Thái Tổ băng hà (1433) an táng ở Lam Kinh, dựng bia Vĩnh Lăng, việc tế lễ ở đây rất được chú trọng. Lam Kinh thời Lê Sơ, nhất là từ khi điện Lam Sơn, thái miếu được xây dựng, các lăng miếu được hoàn chỉnh thì Lam Kinh được trở thành nơi tế lễ quan trọng nhất ở triều Lê. Đối với các vị hoàng đế triều hậu Lê việc “hạ quy Lam Sơn”, bái yết sơn lăng, tế lễ thái miếu là việc hệ trọng.
Tài liệu cũ ghi chép về việc tế lễ ở Lam Kinh rất sơ sài, nhưng qua ghi chép của các bộ sử cũ có thể thấy rằng việc tế lễ ở đây theo lệnh của triều đình phải được tổ chức “thành kính, tinh khiết”(1).
Lễ hội Lam Kinh với việc tổ chức diễn xướng có lẽ được bắt đầu vào đầu triều vua Lê Thái Tông. Dưới triều vua Lê Nhân Tông, khu điện miếu, lăng tẩm ở Lam Kinh đã được xây dựng quy củ, bề thế, trang nghiêm; nên việc tổ chức lễ hội Lam Kinh có quy mô lớn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, chính hoàng đế Thái Tông “tưởng nhớ công lao của tiền bối, sáng tác điệu vũ bình Ngô”(1). Với việc sáng tác, trình diễn điệu vũ bình Ngô ở Lam Kinh để tưởng nhớ công lao của tiền bối, có thể biết rằng hình thức diễn xướng đã được coi trọng.cho biết, chính hoàng đế Thái Tông “tưởng nhớ công lao của tiền bối, sáng tác điệu vũ bình Ngô”
Tài liệu ghi chép về lễ hội Lam Kinh không nhiều, nhưng có thể biết rằng, tại đây vũ khúc “Bình ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều” đã được trình diễn ít nhất hai lần. Sự việc này đã được ghi lại khá cụ thể: Năm Thái Hòa thứ 7 (1449) “Mùa xuân tháng Giêng ban yến cho quan, múa nhạc bình Ngô. Công hầu có người xúc động phát khóc”(2).
Bảy năm sau (1456) vua Nhân Tông trong dịp về Lam Kinh bái yết sơn lăng, đã cho đánh trống đồng “Diễn khúc bình Ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều”(3).
Nội dung của các vũ khúc này đều nhằm ca ngợi công lao của tiền bối trong việc bình Ngô, giữ nước.
Những ghi chép về lễ hội Lam Kinh thời Lê sơ không nhiều, nhưng có thể khẳng định nội dung cơ bản của Lam Kinh bước đầu triều Lê sơ: Lễ hội Lam Kinh là lễ hội cung đình do vương triều tổ chức. Các điệu vũ khúc như “Bình Ngô phá trận”, “Chư hầu lai triều”. Điều này cho thấy khởi nguồn của lễ hội Lam Kinh là lễ hội cung đình do triều đình tổ chức. Vũ khúc "Bình Ngô phá trận" do chính hoàng đế Thái Tông sáng tác, nhằm đề cao, tôn vinh sự nghiệp của tiên đế. Tính chất cung đình của lễ hội không cho phép sự tham gia của nhân dân trong các dịp lễ hội ở Lam Kinh.
Vương triều Lê tồn tại hơn 300 năm, ánh hào quang của sự nghiệp bình Ngô và sự tồn tại của vương triều là cơ sở để cho lễ hội Lam Kinh được duy trì. Các tài liệu về triều Lê từ sau buổi Lê sơ ít nói đến việc tổ chức lễ hội ở Lam Kinh, nhưng chắc chắn lễ hội Lam Kinh vẫn được tồn tại ở những mức độ khác nhau.
Sự suy vong của vương triều Hậu Lê và sự ra đời của vương triều Tây Sơn, vương triều Nguyễn cùng với những biến cố của lịch sử trong giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, cùng với sự đổ nát hoang phế của khu điện miếu Lam Kinh; và sự ra đời của miếu các vua Lê trên đất Hạc Thành, đã làm cho lễ hội Lam Kinh từ lễ hội cung đình trở thành lễ hội dân gian.
Vương triều Nguyễn được thiết lập với chủ trương hạn chế ảnh hưởng của triều Lê nên đã có một số biện pháp làm tác động đến nội dung lễ hội Lam Kinh. Triều Nguyễn ngay từ những năm đầu đã cho xây dựng ở Bố Vệ (thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, nay là thành phố Thanh Hóa) đền thờ các vua Lê (điện Hoàng Đức). Công trình này được tiến hành bằng cách tháo dỡ một phần công trình cũ ở Thăng Long và Lam Kinh đưa về xây dựng ở đây.
Cho đến đầu thế kỷ XIX khi vương triều Nguyễn được xác lập, thì ở Thanh Hóa vẫn tổ chức tưởng niệm các vua Lê theo truyền thống được tiến hành ở hai nơi Lam Kinh và điện Hoàng Đức (đền Lê).
Triều Nguyễn muốn hạn chế ảnh hưởng của vương triều Lê nên đã cho tổ chức lễ hội ở miếu các vua Lê với nghi thức lớn do quan đầu tỉnh đứng đầu vào các dịp “Xuân thu nhị kỳ”(1).
Tại đây các hình thức diễn xướng dân gian được tiến hành như trò chạy chữ “thiên hạ thái bình”, hội trận đền Lê dần dần được hình thành cùng với lễ hội đền Lê(2).
Sự tham gia của nhân dân trong các kỳ lễ hội ở đây, đã làm cho lễ hội mang tính dân gian.
Ở Lam Kinh dưới triều Nguyễn việc tế lễ vẫn được tiến hành theo truyền thống, nhưng quy mô nhỏ dần mang tính địa phương. Sự tôn nghiêm của khu điện miếu đã bị thời gian làm cho phai nhạt. Từ lễ hội cung đình việc tế lễ ở đây cũng chuyển biến theo hướng dân gian.
Tuy có những bước thăng trầm, nhưng lễ hội Lam Sơn vẫn được duy trì cho đến hôm nay và mai sau. Thực tế đã cho thấy lễ hội Lam Kinh từ lễ hội cung đình đã chuyển biến thành lễ hội dân gian. Thời đại có thể thay đổi, nhưng truyền thống tôn vinh anh hùng dân tộc, uống nước nhớ nguồn trong dòng chảy truyền thống là cơ sở để lễ hội truyền thống Lam Kinh duy trì và tồn tại.
Hiện nay khu di tích Lam Kinh đang được tôn tạo, lễ hội Lam Kinh vẫn được duy trì theo truyền thống. Việc nghiên cứu, khôi phục lễ hội Lam Kinh đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết. Sự tồn tại của lễ hội Lam Kinh trong dòng chảy lễ hội truyền thống ở Thanh Hóa cũng như quá trình biến chuyển của lễ hội Lam Kinh, từ lễ hội cung đình đến lễ hội dân gian đang đặt ra nhiều vấn đề giúp cho việc khôi phục và tổ chức lễ hội Lam Kinh.
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 )
(*) Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa.
(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tập 2, Mộc bản khắc năm Chính Hòa 18, 368 - 381.
(1), (2) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tập 2, Mộc bản khắc năm Chính Hòa 18, 368 - 381.
(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, 1972, tập 2, trang 286.
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, 1972, tập 2, trang 286.
(2) Trần Thị Liên, Trò diễn dân gian vùng Đông Sơn, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1997.