Tiếng Việt

English



Tìm kiếm   


THĂM DÒ Ý KIẾN
Bạn có quan tâm đến văn hóa dân gian không?
Rất quan tâm
Quan tâm
Không quan tâm
 
G4BN2    
  Mã xác nhận:
    Xem Kết quả


CHECK MAIL
Email
Password





236692 lượt truy cập
2 người online

Phong tục lễ hội

Hơr H'mô Rôông Râu (Lễ mừng nhà rông mới của dân tộc Gia Rai ở Kon Tom
Tin đưa ngày 3/7/2007

Phạm Cao Đạt(*)
I. SƠ LƯỢC VỀ DÂN TỘC GIA RAI
1. Tên gọi các nhóm, địa bàn cư trú
Gia Rai (Jơrai, J'rai) là một trong những dân tộc thiểu số bản địa cư trú lâu đời, có số dân đông nhất ở Tây Nguyên. Ngôn ngữ của họ thuộc dòng Malayô - Pôlinêsia. Địa bàn cư trú của người Gia Rai rất rộng, họ có mặt hầu như ở tất cả các tỉnh từ Kon Tum (phía Bắc) đến Lâm Đồng (phía Nam) cao nguyên miền Trung. Ngoài ra, còn ở các tỉnh Đông Bắc Cămpuchia, nơi có biên giới tiếp giáp với các tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Khác với một số dân tộc cùng địa bàn cư trú thuộc dòng ngôn ngữ Môn Kh'me như Ba Na, Xơ Đăng... người Gia Rai có dòng họ ổn định. Các dòng họ nổi tiếng như Ksor, Rơô, Rơlan, Kpă, Rơ chăm, Siu, Nay... Họ có chữ viết riêng khá sớm và ổn định, giàu có về từ vựng (đã có từ điển song ngữ tiếng ViệtGia Rai). Dân tộc Gia Rai có các nhóm chính: Chor, Hơdrong, Chưti, M'thur, Aráp, Tbuăn...
Gia Rai Chor: là người Gia Rai ở thung lũng, vùng thấp và được coi là gốc của cả dân tộc. Họ cư trú chủ yếu ở huyện Ayunpa, trước giải phóng (1975) là tỉnh Phú Bổn (Cheoreo), hiện nay thuộc tỉnh Gia Lai và được chia thành hai huyện Ayunpa và Yapa.
Gia Rai M'thur: cư trú vùng giáp ranh giữa Gia Lai và Đăk Lăk ở lưu vực sông Ba. Đó là các huyện Krôngpa (Gia Lai) và huyện Lắk, huyện Krông Pách (Đăk Lăk). M'thur có thể là hệ quả hợp huyết giữa hai dân tộc lớn (Ê ĐêGia Rai) tương tự như Rơngao (của người Ba NaXơ ĐăngKon Tum). Bởi vì có Gia Rai M'thur và cũng có cả Ê Đê M'thur.
Gia Rai Hơdrong: Hơdrong là tên gọi của núi Hàm Rồng (thành phố Pleiku - Gia Lai), gắn với các nhóm Gia Rai sinh sống quanh vùng núi đó. Gia Rai Hơdrong thuộc các huyện Chư Sê, Chưprông và ven thành thành Pleiku của tỉnh Gia Lai.
Gia Rai Chưti: cư trú một phần phía Bắc huyện Chưprông, huyện Đức Cơ (thuộc Gia Lai) và vùng biên giới Cămpuchia với các địa danh nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ như Lệ Ngọc, Bàu Cạn, Pleime...
Gia Rai Tbuăn: cư trú theo triền sông Pô cô, thuộc huyện Yagrai, một phần huyện Chưpăh (vùng thác Yaly), thuộc tỉnh Gia Lai.
Gia Rai Aráp: địa bàn cư trú là lưu vực sông Đăkbla một bên là huyện Chưpăh (Gia Lai), một bên là địa phận tỉnh Kon Tum, Aráp trong tiếng Gia Rai là con voi.
Như vậy, hầu hết địa bàn cư trú của dân tộc Gia Rai tập trung ở tỉnh Gia Lai. Kon Tum chỉ có một nhóm, đó là Gia Rai Aráp.
2. Dân tộc Gia Rai Aráp ở Kon Tum
Địa bàn cư trú gồm: xã Hòa Bình, xã Đoàn Kết (nay thuộc phường Nguyễn Trãi), xã Yachim của thị xã Kon Tum; các xã Yaly, Yatăng, Yaxiêr, Morai, thị trấn Sa Thầy (thuộc huyện Sa Thầy). Họ sống xen kẽ và hòa thuận với một số dân tộc như Kinh, Ba Na Rơngao, Rơ Măm trên cùng địa bàn.
Tiếp cận với người Gia Rai Aráp, đa phần người ta đều nói về nguồn gốc xa xưa là từ huyện Chưpăh (tỉnh Gia Lai). Quá trình di cư là do làm ăn, vượt sông Đăkbla xâm canh sang địa phận tỉnh Kon Tum ngày nay. Sông Đăkbla là đoạn chảy qua thị xã Kon Tum, gặp Kroong Pôcô rồi ngược hướng Tây, phân ngả sang Cămpuchia, dòng chính đổ về thác Yaly. Yah’rai là dòng chính chảy qua địa phận Sa Thầy, một đơn vị hành chính mới được thành lập sau giải phóng (thành lập năm 1979). Tên huyện (Sa Thầy) là trại tiếng gọi tên của sông (Hơrai).
Là dân tộc có số dân đông nhất ở Tây Nguyên nhưng ở Kon Tum chỉ có một nhóm (Aráp) nên dân tộc Gia Rai có số dân chỉ đứng hàng thứ tư, sau Xơ Đăng, Ba Na, Gié - Triêng.
Vốn mang họ rõ ràng như đã nêu ở phần trên nhưng họ của người Gia-rai ở Kon Tum đã biến đổi sâu sắc, không ổn định nữa. Nhiều vùng, người Gia Rai nhưng lại mang tên họ như những dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơ me: Nam (A), nữ (Y). Thậm chí còn ghép họ, chẳng hạn: A Siu Tíu, A là tên chỉ con trai Xơ Đăng hoặc Ba Na, Siu lại là một dòng họ lớn của người Gia Rai... Hiện tượng này mới xuất hiện vào cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Dù người ta thông thoáng, dễ tính mà bỏ qua nhưng theo chúng tôi, về lâu dài và ý nghĩa dân tộc học thì đây là cả vấn đề cần nghiên cứu giải pháp trả lại tên, họ cho đúng nguồn gốc.
3. Hệ thống lễ hội dân gian
Người Gia Rai Aráp có truyền thống và còn lưu giữ được hầu hết các lễ hội dân gian của dân tộc mình. Những lễ hội ấy cũng không ra ngoài ba đường dây chính là: cây lúa rẫy, đời người và cộng đồng. Những lễ hội ấy góp phần quan trọng hình thành phong tục, tập quán và bản sắc văn hóa dân tộc của họ. Ở đường dây đời người, có lễ Pơthi (bỏ mả) rất độc đáo và là một trong những lễ hội lễ. Trong lễ Pơthi có một loại hình nghệ thuật dân gian nổi tiếng kèm theo, đó là nghệ thuật tượng mồ (đẽo tượng gỗ tròn, các loại cột klao, kút kiến trúc nhà mồ).
Ở đường dây cộng đồng có hai lễ hội quan trọng: Bênya (cúng bến nước) và Hơk h'mô Rôông râu (mừng nhà Rông mới), mà người viết muốn giới thiệu sau đây.
II. TIẾN TRÌNH LỄ HỘI HƠK H'MÔ RÔÔNG RÂU
1. Công tác chuẩn bị và điều kiện mở lễ
Khi nói mừng nhà rông mới nghĩa là nhà rông đã xây dựng xong (làm mới chứ không phải sửa chữa). Nhà rông của dân tộc Gia Rai rất hoành tráng, tốn kém nhất là cột. Đây là công việc của cả làng, phải cùng ý nguyện và có sự nhất trí cao để rồi đồng tâm, hiệp lực góp công, góp của mà thực hiện. Dựng nhà rông là việc hệ trọng, có khi kéo dài hàng tháng, chuẩn bị hàng năm mới làm được.
Nhà rông dựng xong, tùy điều kiện kinh tế mà khai thông sử dụng vì đây là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng, không thể làm xong rồi để đấy. Nếu chưa làm lễ hội chính thức (ăn mừng) được thì người ta làm lễ nhỏ hơn (lễ vào nhà rông) chỉ cần một ít thủ tục đơn giản như: khấn xin phép, đào cả gốc một loại mây gai rừng, một vài con heo cùng với gà, rượu cần... Già làng và đại diện các gia đình hành lễ xong là có thể sinh hoạt bình thường. Nói như vậy nhưng dù đã được phép sử dụng sau khi làm lễ vào, dân làng vẫn muốn có được một lễ hội ăn mừng nhà rông như truyền thống ông bà để lại. Muốn vậy phải chuẩn bị công phu: định thời gian, vật liệu trồng cây nêu, vật hiến sinh phải đủ (trâu, dê, heo), rồi các loại lương thực, thực phẩm khác. Đó là những điều kiện bắt buộc phải có thì mới được làm Hơk h'mô Rôông râu.
Vì có trâu (đâm tượng trưng) nên nói đầy đủ thì đây phải là: Ăn trâu mừng nhà rông mới (cần phân biệt giữa lễ hội Đâm trâu và lễ hội có trâu hiến sinh - ăn trâu). Hơk h'mô Rôông râu thường kéo dài bốn ngày liên tục, nhưng ngày thứ tư chỉ mang ý nghĩa nội bộ của làng.
2. Tiến trình lễ hội
a. Ngày thứ nhất (mở lễ)
Vật hiến sinh bắt buộc phải có là: Pu, pé, pao (heo, dê, trâu). Heo thì sao cũng được nhưng dê và trâu đều phải màu đen (da, lông) và là đực. Trâu đen đực nhưng phải là trâu tơ, người Gia Rai xem xét qua độ phát triển của sừng. Trâu đạt yêu cầu phải béo (mập), sừng chuẩn bị cong, đầu vuốt của nó chỉ dài bằng tai. Khi hành lễ, chỉ có trâu và dê là được cột vào cây nêu. Heo lớn được xẻ thịt trước làm đồ cúng, đồ ăn, thay vào đó là một con heo nhỏ (tượng trưng) cột vào cùng với trâu. Các lễ thức diễn ra như sau:
· Mút prạ (cho trâu và dê vào thòng lọng): từ 14 giờ
- Bắt đầu bằng việc trồng cây nêu (gưng). Đất chọn để trồng nêu là khoảng trống trước cửa nhà rông (sang Rôông). Cây nêu của dân tộc Gia Rai có hai loại: đầy đủ có ba tầng, thiếu là bằng (cụt) chỉ có phần gốc nhưng rất chắc chắn. Lễ mừng nhà rông người ta trồng nêu loại cụt. Có hai cây nêu được dựng đồng thời, một cho trâu và một cho dê.
- Thủ tục trồng cây nêu: sau khi chọn vị trí đất, người ta cắt tiết gà trống cho vào đĩa. Đĩa tiết là vật thiêng, đàn bà, trẻ con tuyệt đối không được sờ vào đĩa này. Cây goòng gai (pơ lang) được chặt từ rừng về, một đầu sẽ được chôn xuống đất, đầu kia bịt kín bằng lá rừng. Sau này, cây pơ lang sẽ bén rễ và sinh trưởng, đánh dấu cho lễ đâm trâu. Điều này cũng lý giải rằng, chỉ cần nhìn vào số lượng cây pơ lang trước nhà rông ở vùng Gia Rai là người ta có thể hình dung ra cuộc sống giàu có hay ngược lại của làng.
- Một đĩa khác đựng đầy sáp ong, có dây làm tim (bấc) để đốt lửa khi khởi sự, lễ thức này là Tuyk phui yân klả nhan. Để tránh gió thổi tắt lửa, khoảng bốn, năm người đàn ông giăng, nối những tấm, đắp mới vây xung quanh.
- Tiết gà sẽ được già làng đổ xuống vị trí để dựng hai cây nêu. Lần lượt, đốt lửa (đĩa sáp ong) để bên cạnh và bắt đầu đào đất, dựng cây nêu (nêu cột trâu làm trước, sau đó là cây nêu cột dê). Sau thủ tục này, tốp người giăng những tấm đấp che lửa hết nhiệm vụ, đĩa nến tắt. Tiếp theo là chỉnh sửa hai cây nêu cho đẹp và vững chắc. Nêu cột trâu rất công phu vì khi chém, đâm trâu, nó đau và sẽ chạy vòng quanh cây nêu. Nếu không chắc, cây nêu sẽ bị lung lay, bị đổ, rất nguy hiểm và lễ hội bị hủy bỏ. Trồng nêu chỉ được coi là xong khi hai chiếc thòng lọng đã được tròng vào gốc của hai cây nêu. Thòng lọng được làm bằng dây mây rừng, rất chắc và cầu kỳ, tạo cả những hoa văn trang trí đẹp mắt, tinh xảo.
- Những vật hiến sinh (heo, dê, trâu) phải là của làng. Nếu không có mà đi mua từ làng khác cũng phải mua trước đó ít nhất là 10 ngày để nó được ăn cỏ, ăn đồ ăn của làng thì mới có ý nghĩa.
- Cây nêu dựng xong, trâu và dê được dắt ra để làm Mút prạ (cho vào thòng lọng). Lễ này hoàn tất vào khoảng 17 giờ cùng ngày, mặt trời đã xuống ở chân trời phía Tây. Lễ hội hoàn tất trước sự chứng kiến của toàn thể dân làng, trong những tiếng hú, tiếng hò kéo dài.
· H'rế prang (một thủ tục tâm linh):
- Một lát sau, già làng chủ trì một lễ thức quan trọng. Các trống lớn, kẻng, tù và được đồng thời nổi lên. Dân chúng trong làng, không thiếu một ai, từ già đến trẻ kéo nhau hết về nhà rông, trang phục lễ hội rất đẹp.
- Già làng dùng một sợi dây dài (được nối lại từ một loại vỏ cây đập dập, đã từng làm khố áo thời xa xưa), một đầu buộc vào thòng lọng ở cổ con trâu. Từ điểm tựa này, sợi dây được kéo dài ra và mọi người phải được cầm vào sợi dây ấy. Tùy vào số nhân khẩu trong làng mà sợi dây có thể dài hay ngắn, có khi dài tới hàng nửa cây số. Ai vì một lý do gì đó mà vắng mặt ở lễ thức này thì quả là không may mắn, thiệt thòi cho chính họ. Khi tất cả đã được nắm vào dây, sợi dây lại được già làng chuyển sang buộc vào thòng lọng ở cổ con dê. Thủ tục tiếp tục được tiến hành như lần trước. Đây là hành vi để cả làng được tiễn đưa vật hiến sinh và cầu mong sức khỏe, cuộc sống no đủ, bình yên cho mình và dân làng.
- Sau lễ thức này, mọi người tản ra khi trời vừa chạng vạng. Những nét chấm phá đầu tiên của phần Hội bắt đầu khởi sắc. Đó là việc xẻ thịt một con heo lớn, huy động thêm các loại thịt, cá, rau, rượu cần từ các gia đình tập trung về nhà rông. Cồng chiêng lên tiếng, chưa có nhảy múa (xoang).
- Họ vừa ăn, uống, vui chơi trước cửa nhà rông, xung quanh hai cây nêu có cột trâu và dê. Người Gia Rai gọi đêm này là đêm Thức cùng trâu, dê (pao, pé).
- Khoảng 10 giờ đêm, đội cồng chiêng rời nhà rông, vừa đi vừa đánh tới tất cả các gia đình để chúc mừng. Đáp lại, các gia đình biếu (thưởng) cho đội cồng chiêng, có khi là con gà, gạo, trái bí, rượu, tiền... Hoạt động này kéo dài hết đêm. Số quà mà các gia đình thưởng, sẽ có người thu gom và đem về nhà rông. Ngay trong đêm, nhiều gia đình vui vẻ và khá giả có thể mời cả đội cồng chiêng vào nhà mình uống rượu.
- Cũng trong đêm này, ai ai cũng phải lo trang phục, trang sức đẹp nhất để dự lễ chính thức vào sáng sớm hôm sau.
b. Ngày thứ hai (chính lễ)
Khi mặt trời lên rõ, khoảng 7 giờ, đại diện các gia đình (chỉ có đàn ông hoặc con trai) tập trung về nhà rông, mỗi người mang theo một dúm gạo. Gạo được gom lại đặt trong một đĩa bằng sản phẩm đan lát và giao cho người chăm sóc nhà rông (Nhô t'ha plei wai Rôông).
Ông bưng đĩa gạo này hướng về phía mặt trời mà khấn (soi). Vừa khấn, vừa vãi gạo thành nhiều đợt trên lưng, trên đầu, khắp mình trâu và dê. Đây là gạo thiêng mang ý nghĩa tiễn đưa.
Khấn xong, vãi hết gạo, ông bình tĩnh lấy Đeoteo, loại kiếm dài, sắc, nhọn chém vào lưng trâu và dê. Chém nhiều nhát, trâu và dê chảy máu. Đây là lễ thức mời các thần linh về chứng kiến và uống máu trước. Chỉ thế thôi rồi giao lại cho một đội ngũ những người khỏe mạnh, quen nghề mổ xẻ sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình. Đội quân này được làng chọn cử từ trước.
Trước hết họ đập chết con dê. Tiếp theo là lấy dây thừng cột 4 chân và sừng trâu. Cột dây cho chắc và họ cùng giật mạnh cho trâu đổ. Họ giữ chặt sừng trâu rồi chọc tiết. Tiết được hứng vào nồi đồng lớn (nồi bung). Thường khi tiết ra hết là trâu chết. Gặp phải trâu tơ khỏe mạnh chưa chịu chết thì họ lấy mác đâm vào huyệt dưới nách, lát sau, trâu chết hẳn. Trâu và dê (đã chết) được đưa đi chỗ khác để làm thịt.
Trong khi làm thịt trâu và dê thì các gia đình mang rượu tập trung về trước nhà rông, mỗi gia đình một ghè (ché). Ghè quý nhất, cổ nhất được lựa chọn mang lên nhà rông để làm lễ. Cùng với ghè rượu lễ, góc thiêng trên nhà rông được xác định, đánh dấu bằng loại lá rừng (Kơyô ngăl). Ở dưới cửa chính của nhà rông, già làng cái một gốc cây mây đào cả củ mang từ rừng về. Đó là những thủ tục để vào nhà rông.
Một tốp thanh niên khác được phân công đi lấy nước sạch để phục vụ việc mổ thịt. Xưa kia là nước giọt, nước suối. Ngày nay đa phần được thay bằng nước chứa trong bể (chương trình nước sạch nông thôn) lấy từ một nguồn nước có từ dẫy núi gần nhất bằng đường ống dẫn về, hoặc giếng khoan mà có.
Nước mang về để rửa, cạo, làm thịt trâu, dê và các gia súc khác. Sau đó, nước được đổ vào các ghè rượu. Trâu và dê sau khi mổ, việc đầu tiên là cắt lấy đầu và một phần chót của đuôi. Con dê cũng xử lý như vậy. Đầu, đuôi của trâu và dê được đưa lên cột gưng, phần gốc (đế) để làm lễ khấn (soi). Gan của trâu và dê được cắt một phần mang lên cúng tại nhà rông, còn lại chia đều cho cả làng. Gia đình nào cũng có phần, có khi chỉ là một miếng nhưng không gia đình nào bị thiếu.
Lễ cúng trên nhà rông được coi là quan trọng nhất. Người cao tuổi nhất và hiểu biết về phong tục dân tộc của làng được mời đến. Những người già, uy tín trong làng cũng được mời về. Thứ ba nữa là đại diện các gia đình cũng được tập trung, ở lễ này gồm toàn đàn ông, không có đàn bà. Người cao tuổi sẽ hướng dẫn cho già làng cách tiến hành và lời trong khi khấn, cúng, với ý nghĩa truyền dạy. Toàn bộ lễ thức diễn ra trên nền nhạc cồng chiêng, cũng được diễn tấu ngay trên sàn của nhà rông. Lúc này chưa có nhảy múa (xoang).
Sẽ có hiệu lệnh: “Thịt làm xong rồi, đổ nước vào rượu đi”. Tất cả các ghè rượu được đổ đầy nước để khoảng nửa giờ sau đó, rượu được hút qua cần ra những dụng cụ chứa sẵn rồi tiếp tục đổ đầy nước cho ngấm.
Trên nhà rông làm lễ xong, thịt trâu và dê được chia cho các gia đình. Giành lại một phần cho tập thể để già làng làm lễ và tiếp khách. Nhận được phần thịt, các gia đình tranh thủ đem về cúng tại nhà mình nhưng không vắng đại diện có mặt tại nhà rông.
Lúc này, tại khu vực nhà rông đã cúng xong, đã có đồ ăn, thức uống, già làng ăn, uống phép và nhắc nhở mọi người cùng ăn, uống, mời khách. Khách từ các làng khác được mời từ trước hoặc vô tình đến làng, hoặc biết ở làng đó có lễ mà tìm đến... đều được đón tiếp và đối xử như nhau.
Kể từ giờ phút này, phần Hội chính thức được phát động, vui chơi, ăn uống, nhảy múa hết buổi chiều và cả đêm. Bên cạnh cồng chiêng, nhảy múa, có trình diễn nghệ thuật dân gian mà họ thay nhau thực hiện. Quy định của làng khi vui chơi là cấm mọi hằn thù, hiềm khích, mâu thuẫn, xích mích cá nhân. Mọi tranh chấp, nợ nần đời thường... không ai được tính toán, xử lý trong lúc này.
Tinh thần của tất cả mọi người được giải thoát dưới sự che chở của thần nhà rông (Yang sang Rôông), chỉ còn lại những niềm tin, niềm vui, sự say sưa cộng cảm của cả cộng đồng. Ngày thứ hai (chính lễ) từ từ kết thúc như vậy.
c. Ngày thứ ba (thường kéo dài sang ngày thứ tư - sau lễ)
· Ăn đầu trâu:
- Đầu trâu và dê được làm khéo léo, lấy óc và lưỡi, thêm một quả trứng gà, được băm nhuyễn, trộn đều, hấp chín hoặc nấu dưới dạng cháo. Sau đó đưa lên nhà rông cúng. Phần thịt của đầu trâu được bóc ra hết, sử dụng tự do. Đầu trâu lúc này chỉ còn xương và sừng.
- Đồ cúng trên nhà rông được già làng và đại diện các gia đình cùng ăn. Nói là ăn nhưng vì quá ít nên mỗi người chỉ được một chút. Có khi chỉ kịp chấm ngón tay vào rồi mút hoặc bôi (quẹt) lên cổ mình thế là được, coi như đã có phần.
- Ăn đồ cúng xong, ghè rượu quý đã được sử dụng thực hiện các lễ thức trên nhà rông được đưa xuống, đặt giữa hai cây nêu (cột gưng). Già làng lấy sợi dây dài cột vào cổ ghè rượu. Khi đưa ghè từ nhà rông xuống đất, mọi người trong làng đã được thông tin, lan truyền nhau và tất cả lại kéo ra để được nắm vào sợi dây ấy, giống như ngày đầu tiên đối với thòng lọng trâu và dê. Đây là lễ thức tâm linh lần thứ ba được thực hiện. Sau lễ thức này, công việc cơ bản của lễ ăn trâu mừng nhà rông mới (Hơk h'mô Rôông râu) là xong. Ăn uống, vui chơi thỏa thích lại tiếp tục.
· Ăn xương trâu (thường là ngày hôm sau, ngày thứ 4):
- Chỉ có xương trâu vì xương dê thì quá nhỏ và mềm đã được ăn từ trước. Xương trâu được băm nhuyễn (rất mất công), chế biến cùng với một số loại rau rừng, chủ yếu là cây chuối non xắt mỏng rồi băm nhỏ.
- Món xương, đúng hơn là cháo rau xương rồi cũng được mọi người cùng chia nhau ăn trong lúc uống rượu cần. Ở lễ thức ăn xương chủ yếu là để những người có trách nhiệm ngồi lại với nhau, giãi bày tâm sự, tình cảm. Họ rút kinh nghiệm với nhau về quá trình tổ chức lễ hội. Họ xem xét có trường hợp nào vì đau ốm, bệnh tật hoặc ở xa không thể hoặc không kịp về dự lễ, bàn cách chia xẻ với họ. Cũng xem xét như vậy với những gì xấu đã xảy ra như vi phạm luật tục, gây những chuyện không hay... Nếu có, sẽ quy định hình thức xử phạt, nhẹ thì gọi đến kiểm điểm, nặng thì thông báo cho cả làng biết và định thời gian, hình thức xử phạt trong thời gian tới. Những người không có trách nhiệm thì cứ tùy sức mà ăn uống, vui chơi.
· Kết thúc lễ (khoảng 12 giờ trưa):
- Bằng việc đưa xương đầu trâu lên treo ở vách mái (phía trong) nhà rông. Đây cũng là lễ thức quan trọng, bởi vì từ đó, bất cứ ai đến nhà rông cũng đều nhìn thấy và tự hiểu rằng, lễ mừng nhà rông đã được làng tổ chức trọng thể. Người dân trong làng thì tự hào về nhà rông của mình.
- Cùng với việc đưa xương đầu trâu lên nhà rông, lễ thức định vị trồng cây pơlang ở sân nhà rông cũng được tiến hành. Cây pơlang đặt ở giữa cây nêu được cẩn thận đào lên, lấy ra trồng ở vị trí cố định. Từ đó cây bén rễ và phát triển bình thường (pơlang là loại cây rất dễ sống). Nhà rông nào có nhiều cây pơlang là làng đó có nhiều sức mạnh, giàu có. Pơlang là thông tin từ bên ngoài về một lễ hội Hơk h'mô Rôông râu.
Phần hội trong lễ hội này thực hiện đan xen, liên tục cùng với các lễ thức kéo dài ba đến bốn ngày liền. Góp phần hòa quyện giữa các hình thái văn hóa dân gian, nét đặc trưng trong lễ hội dân gian của đồng bào dân tộc Gia Rai.
P.C.Đ
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)


(*) Nhạc sĩ, Sở Văn hóa - Thông tin Kon Tum.


Các tin khác :

  • Trò chơi dân gian ở Thành phố Hồ Chí Minh
  • Lễ hội Lam Kinh từ lễ hội cung đình đến lễ hội dân gian
  • Sự tham gia của các hình thức dịch vụ trong lễ cưới ở Trịnh Xá (Bình Lục, Hà Nam)
  • Tập quán tang ma của người Tày Poọng ở Tương Dương, Nghệ An
  • Nhìn lại tình hình sưu tầm, nghiên cứu tín ngưỡng và lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam
  • Lễ hội "Xến Xó Phốn" của người Thái vùng Tây Bắc

  •   SỰ KIỆN NỔI BẬT

    » Nhà dài Ê Đê

    » Thông báo tuyển sinh đào tạo trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ của Học Viện Khoa học xã hội

    » Vai trò của văn học dân gian đối với văn học viết thời Đại Việt

    » Viện Nghiên cứu văn hoá 30 năm xây dựng và trưởng thành

    » Lễ bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi)" của NCS. Nguyễn Lan Hương

    » Một bản luận án tiến sĩ nhân học mới được bảo vệ tại Hoa Kì

    » Nhận diện sử thi Xơ Đăng

    » Nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Mơ Nông

    » Đề nghị Báo Tuổi trẻ cải chính những thông tin không chính xác về sử thi Tây Nguyên

    » Nhà ở của người Xơ Đăng

    » Những tri thức thiếu chính xác và một số điều cần trao đổi trong những cuốn sách viết về văn hoá Việt Nam

    » Xét duyệt đề cương tập 2 của bộ "Lịch sử văn hóa Việt Nam"

    » Quyết nghị của Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ

    » The Collection and Theorization of Epics in Vietnam

    » Quá trình sưu tầm và nhận thức lý luận đối với sử thi ở Việt Nam

    » Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam

    » Thông báo mời tham dự Hội nghị Thông báo văn hoá năm 2008

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Trò diễn trong lễ hội dân gian của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ" của NCS. Đặng Hoài Thu

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ"

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học về đề tài "Tín ngưỡng Hai Bà Trưng ở vùng châu thổ sông Hồng"

    » Hội thảo khoa học "Văn hoá, văn nghệ dân gian các dân tộc Cao Bằng trong sự nghiệp đổi mới"

    » Hội nghị thông báo văn hoá năm 2008

    » Bảo vệ luận án Tiến sĩ Văn hoá học: Lễ hội làng Lệ Mật của Nghiên cứu sinh Tạ Duy Hiện

    » Nghiệm thu cấp cơ sở Tiểu dự án 2, Tiểu dự án 3 thuộc Dự án sử thi Tây Nguyên

    » Họp báo công bố bộ sử thi lớn nhất Việt Nam

    » Thông báo tuyển sinh sau đại học chuyên ngành: Văn hoá học và văn hoá dân gian năm 2008

    » Một cách tiếp cận về lịch sử văn hoá Việt Nam

    » Viết lịch sử văn hoá Việt Nam: Lí luận phải đi trước một bước

    » Ảnh hưởng của văn học chữ Hán Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt

    » Quá trình thành lập và phát triển

    » Danh mục sách đã xuất bản từ 1979 đến 2007

    » Đối tượng nghiên cứu của khoa văn hoá dân gian

      LIÊN KẾT

    Viện Khoa học xã hội Việt Nam

    Đại học Văn hoá Hà Nội

    Bảo tàng Dân tộc học VN

    APEC Việt Nam 2006

    Chính sách văn hóa Thái Lan

         

    Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Văn hóa (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)

    Giấy phép số 499/GP-BC ngy 15/11/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thng tin ln mạng Internet
    Người chịu trách nhiệm chính: GS.TS. Nguyễn Xuân Kính
    Địa chỉ: 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, Việt Nam. Email: vienncvh@fpt.vn
    Điện thoại: 04. 9784868. Fax: 04. 9725903. .