Người Sán Chí là một bộ phận của tộc Sán Chay, cư trú ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc. Tại tỉnh Bắc Giang, người Sán Chí cư trú ở các huyện Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế. Tại Lục Ngạn, đồng bào sống tập trung ở hai xã Kiên Lao và Kiên Thành. Mặc dù dân số ít, lại sống chung với khối đông đảo người Tày, Nùng, Việt, song đồng bào vẫn bảo lưu những nét văn hoá riêng. Bài viết này trình bày một số tư liệu về những nét riêng trong tục cưới xin của nhóm cư dân này ở huyện Lục Ngạn.
Trai gái Sán Chí ở Lục Ngạn, từ 14 - 15 tuổi đã biết yêu và được tự do tìm hiểu qua cuộc hát giao duyên nhưng muốn lấy ai phải được sự đồng ý của cha mẹ, nên xưa kia, nhiều trường hợp đôi trai gái tha thiết yêu nhau nhưng không lấy được nhau phải ôm mối "tình bạn" suốt đời, không ít trường hợp dẫn đến những hành động tiêu cực.
Người Sán Chí thường tổ chức cưới từ tiết Sương giáng (khoảng đầu tháng chín âm lịch) đến khi con chẫu chuột bắt đầu kêu (khoảng cuối tháng hai). Đây là thời kỳ không bận bịu với công việc đồng áng, tiết trời không nóng bức, thuận lợi cho việc cưới xin.
Một cuộc hôn nhâu để đôi trai gái thành vợ chồng ở người Sán Chí phải qua các bước sau:
1. Đi hỏi lần một (mằn tảy dắt vằn): ông bố hoặc chú bác ruột của người con trai đến đặt vấn đề hôn nhân với nhà gái dưới hình thức "xin làm anh em". Lễ này có những đặc điểm đáng lưu ý sau:
- Không cần chọn ngày tốt nhưng thường chọn ngày phiên chợ (chợ Chũ) để ra chợ mua hai thanh đường cát đem đến nhà gái.
- Việc đi hỏi phải "bí mật", không để ai biết, có khi không lộ cả với con trai nên thường đi vào lúc xẩm tối. Trên đường đi không gặp người nào hoặc con vật gì là tốt; nếu ra ngõ mà gặp chim bay ngang qua mặt, hoặc con vật nằm ngang đường, hoặc người đang chải đầu, người vác cuốc, hoặc cây gẫy; sang địa phận làng khác gặp bìm bịp bay qua là điềm xấu nhưng vẫn đi. Tuy nhiên, những điềm trên có thể coi là căn cứ để nhà trai không tiếp tục cuộc hôn nhân cho con mình, nếu trong các bước tiếp theo nhà gái có những biểu hiện khó dễ hoặc nhà trai phát hiện cô gái có những mặt này mặt khác không ưng ý.
Khi đến nhà gái, ông bố (hoặc chú bác ruột người con trai) đặt hai thanh đường lên bàn thờ và nói với bố mẹ cô gái "muốn làm anh em". Nhà gái chưa trả lời ngay, chỉ mời uống nước và nói các chuyện khác.
Bốn ngày sau, nếu không thấy nhà gái đem trả lại thanh đường thì coi như đã nhận lời. Sáng hôm sau (ngày thứ năm), đúng ngày phiên chợ, nhà trai lại ra chợ mua các đồ lễ cho lần đi hỏi thứ hai.
2. Đi hỏi lần hai (mằn vằn tày nhầy): lễ này cũng do ông bố hoặc chú bác ruột của chàng trai đi vào xẩm tối. Khi đi mang theo hai thanh đường, một cân thịt lợn, một chai rượu (loại chai 65 phân), đặt tất cả các lễ vật này lên bàn thờ và chính thức đặt vấn đề hôn nhân cho con mình với cô gái. Bố mẹ cô gái nhận và gọi cô gái ra để hỏi ý kiến. Thông thường, rất ít trường hợp các cô gái phản đối.
3. Hỏi lần ba (mằn tày zlạm): lễ này được tiến hành năm ngày sau đó. Nếu không đi được thì nhà trai phải có lời báo trước với nhà gái cho lui lại đến năm ngày sau nữa; nếu không báo thì coi như nhà trai bỏ cuộc, sau đó có muốn tiếp tục cũng không được nhà gái chấp nhận. Mục đích của lần hỏi thứ bà là xin lá số của cô gái xem đôi trai gái có hợp nhau không. Bắt đầu từ lễ này, nhà trai phải nhờ đến ông mối trợ giúp. Lễ này vẫn được tiến hành vào buổi tối. Ông bố chàng trai cùng ông mối mang theo các lễ vật như trong lần hỏi thứ hai, trước sự chứng kiến của họ hàng nhà gái, đặt lên bàn thờ nhà gái và xin lá số cô gái mang về nhờ người giải. Nếu giải lá số thấy đôi trai gái xung khắc không thể lấy được nhau thì nhà trai đem một chút lễ để trả lại lá số và xin phép thôi. Hai bên bàn luận kỹ và tìm ra một giải pháp khéo léo để giữ giá trị cho cô gái và nhà gái trước dân bản.
Trường hợp đôi trai gái hợp số nhau thì nhà trai hẹn ngày làm lễ cau to. Cũng có nhiều trường hợp cô gái không bằng lòng nên đã phản ứng lại bằng cách yêu cầu trả lễ, hoặc cáu gắt, hoặc không ăn đường, thịt do nhà trai mang đến. Trường hợp này nếu nhà trai kiên nhẫn có thể nhờ ông mối thuyết phục, nếu không thì có thể dừng lại ở đây, đi tìm đám khác. Nhiều trường hợp, người con gái tỏ ra mình "cao giá", đã giả vờ trả lễ (trả toàn bộ hoặc một nửa) để người con trai và gia đình nhà trai đến hỏi tiếp.
4. Lễ cau to (cả cạy)
Lễ này thường tiến hành vào ngày mồng một và ngày rằm. Nhà trai mang đồ dẫn lễ gồm 50 cân (cân Tàu) thịt lợn móc hàm, hai thúng gạo (một nếp, một tẻ, mỗi thúng 24 khoảng), 35 chai rượu. Đoàn dẫn lễ gồm ông mối (mui nhân), chàng rể (dôi lang - ngày nay các chàng rể không đi) và 4 - 6 người gánh lễ (phộ nhân). Lễ vật được mang đi vào buổi chiều để buổi tối hai bên cùng ăn uống. Nhà gái nhận lễ vật trước sự chứng kiến của đông đảo họ hàng và làm lễ trình gia tiên. Chàng rể cũng vào làm lễ để ra mắt họ nhà gái và nhận bố mẹ cô gái là slằm dị (bố giữa) với ý nghĩa anh ta chưa thật sự là con rể và cũng chưa phải là chồng của cô gái nhưng có quyền kiểm soát và "quản lý" các quan hệ của cô ta từ đây vì nhà gái đã nhận lễ của mình rồi. Sau đó, nhà gái dọn cỗ làm từ các đồ lễ của nhà trai mang sang để mời họ hàng và nhà trai cùng ăn nhưng đoàn nhà trai ngồi ăn một mâm riêng.
Theo phong tục, từ lễ cau to đến khi cưới phải là ba năm, vừa để chứng tỏ nhà gái và cô gái "có giá", vừa để nhà trai có thời gian chuẩn bị lễ vật, nhưng quan trọng hơn là để cô gái tự trồng bông, kéo sợi, dệt vải, may quần áo, chăn gối đủ dùng cho đến khi có con, làm chăn bông, đệm mang theo khi về nhà chồng. Cô gái còn phải dệt một lượng khăn tay thêu hoa (mỗi khăn phải dệt từ 4 - 5 ngày) đủ để tặng cho các bạn đồng niên của chồng tương lai vào ngày về nhà chồng (số lượng các bạn đồng niên này, cô gái được báo trước lễ cưới một năm).
5. Báo cưới (mằm tăng)
Lễ này được tiến hành hai tháng trước lễ cưới theo dự định. Ông mối mang theo hai thanh đường, rượu, thịt như các lễ đầu tiên đến nhà gái báo ngày sẽ tổ chức cưới (là ngày tốt) do nhà trai ấn định. Ngày cưới phải kiêng ngày tam sát, ngày chạ pộ (ngày mà người Sán Chí tin rằng dễ làm cho người chồng bị chết yểu, mỗi tháng có hai ngày, tuỳ từng năm, từng tháng). Sau bữa cơm do nhà gái đãi, ông mối bàn định với nhà gái về lễ vật thách cưới. Theo phong tục, tổng lễ vật mà nhà trai phải mang sang nhà gái gồm:
- 140 cân (cân Tàu) thịt lợn móc hàm, vì trong lễ cả cạy đã nộp 50 cân nên lễ cưới còn phải mang sang 90 cân.
- 4 thúng gạo (nửa nếp, nửa tẻ, mỗi thúng 24 cân), lễ cả cạy đã nộp 2 thúng nên lễ cưới còn phải mang sang 2 thúng nữa.
- Rượu 70 chai, lễ cả cạy đã mang 35 chai, mang thêm 35 chai nữa. Rượu dẫn lễ cưới phải được nấu bằng gạo nếp, ủ bằng men chế từ cây trí tầy neng (cây trăm rễ) trong rừng, uống vào dễ say, nhưng ngọt đậm và không gây đau đầu.
- 2 đồng bạc trắng.
Khác với người tộc người thiểu số, người Sán Chí ở Lục Ngạn không thách quần áo cho con gái mình mà số quần áo ấy do cô gái tự trồng bông dệt vải, may vá trong ba năm chờ đợi ngày cưới.
Trước lễ cưới một tháng, ở người Sán Chí có một tục rất độc đáo: lần lượt các chú, bác, cậu, cô, dì ruột và cả các anh chị em ruột của cô gái đã có gia đình riêng, mỗi nhà làm một bữa cơm mời cô gái đến ăn như để liên hoan chia tay với cô gái trước khi về nhà chồng, vừa để dặn cô gái những điều cần chú ý khi về làm dâu nhà người. Những điều căn dặn đó thường là:
- Phải yêu thương chồng con, chăm chỉ lao động, để có bát ăn no, vợ chồng không lục đục, biết tính toán trong làm ăn, chi tiêu vì "biết làm thì một đồng tiền cũng có thể làm nhà cao rộng, không biết thì mười đồng tiền cũng nuốt hết" (Mặn xân hầy cố lau, mảo xích chầu mặn xần thăn cố hau);
- Phải lễ độ, không được bực tức với bố mẹ chồng, anh chồng; không đi qua trước mặt bố chồng, anh chồng, trường hợp bất đắc dĩ phải cúi khom mình xuống;
- Không được ngồi ở cửa, không được ăn mặc hở hang;
- Ngủ trưa cũng phải ngủ trong buồng, không được ngủ ở ngoài nhà;
- Cho con bú phải kín đáo, không hướng về phía bố chồng, anh chồng đang ngồi;
- Đi ra khỏi nhà phải để con ngủ ở gian nhà ngoài, không được đặt con ngủ ở trong buồng để lỡ khi con thức giấc khóc, bố chồng có thể bế đỡ con được, không phải vào buồng (người Sán Chí cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác cấm kỵ bố chồng, anh chồng vào buồng con dâu, em dâu), v.v...
Những điều này tất cả cô dì, thím bác ruột... đều dặn dò rất kỹ để cô gái biết và làm theo, để không phạm phải. Nếu sau khi về nhà chồng, cô gái phạm phải những điều trên, không chỉ cô gái mà cả bố mẹ, họ hàng cô bị nhà trai và dân bản chê là "không biết dạy bảo con". Trong không khí thiêng liêng của bữa cơm chia tay, cô gái đón nhận tất cả những điều ấy. Đây là "hành trang làm dâu" mà các cô gái Sán Chí được trang bị chu đáo trước khi về nhà chồng mà ở các tộc người thiểu số khác ít có hoặc không có.
6. Lễ cưới (tăng)
Trước ngày cưới một hôm hoặc hơn, nhà trai mang các đồ dẫn lễ sang nhà gái để nhà gái làm cỗ mời họ hàng, bạn bè. Sau khi giao đủ lễ vật cho nhà gái, đoàn dẫn lễ về ngay, không ăn uống và không ngủ lại, nên nếu nhà gái ở xa, nhà trai phải đi thật sớm và chuẩn bị đồ ăn đường cho những người mang lễ.
Buổi chiều cùng ngày, nhà trai cử đoàn đón dâu gồm ông mối, hai phù dâu sang nhà gái, mang thêm các lễ vật gồm:
- 4 con gà gồm một đôi gà trống mái (gà giò). Số gà này nhà gái không được mổ, chỉ để nuôi; một gà thiến mổ để cúng gia tiên, một gà mái để đoán bản mệnh của cô gái (con gà này nhà gái không được mổ);
- 1 rá xôi (trong đó có để 4 cốc đường);
- 1 chai rượu.
Nhà gái nhận các lễ vật trên và làm lễ trình gia tiên. Ăn xong, hai bên cùng ăn uống và bàn luận về công việc của ngày mai. Ông mối là người chủ động trong việc bàn luận với nhà gái. Xong xuôi, nếu nhà trai ở xa thì đoàn đón dâu có thể ngủ lại, còn nếu ở gần thì trở về nhưng cô dâu không về cùng.
Sáng hôm sau, đoàn nhà trai do ông mối và hai phù dâu lại sang. Ông mối dự tính đoạn đường về nhà đi hết không bao nhiêu thời gian để định thời điểm thay mặt nhà trai đi đón dâu, sao cho khi cô dâu về đến cổng nhà chồng đúng vào giờ Hoàng đạo. Khác với nhiều dân tộc, ở người Sán Chí, trước khi rời khỏi nhà mình để về nhà chồng, cô gái không lễ gia tiên. Trước khi ra cửa, cô được búi tóc, vấn khăn và vẫn ngồi trên giường của gia đình kê trước bàn thờ.
Đến giờ ra cửa, người ta trải một tấm vải đen dài khổ hẹp, từ trên giường xuống đất ra đến tận cửa chính. Cô gái đi trên tấm vải đó với ý nghĩa cắt đứt mối liên hệ với tổ tiên mình để về nhà chồng. Khi ra đến cửa, tấm vải kia được cất đi, hai người phù dâu của nhà trai cầm ô che cho cô dâu. Nhà gái cũng cử hai người con gái phụ cùng các phù dâu và một số người khác đưa con về nhà chồng. Bố mẹ cô gái cho con một ít vốn riêng, thường từ 4 - 6 thúng thóc và nhờ người gánh cùng với đoàn đưa dâu. Các gánh thóc được dán giấy đỏ vào thúng, vào đòn gánh để mọi người biết là vốn riêng của cô gái (ngày nay, thóc được cho vào bao tải và chở bằng xe đạp hoặc xe máy, ngoài bao tải, trên xe đạp, xe máy cũng được dán một mảnh giấy đỏ). Những nhà khá giả còn cho con cả trâu. Con trâu cũng được dán giấy đỏ vào sừng và dắt đi cùng đoàn đón dâu. Gia đình chú rể nhận các đồ hồi môn trên của cô dâu và tặng những người gánh thóc, dắt trâu mỗi người một cân thịt lợn. Các của hồi môn này nhà trai được quyền sử dụng, nhưng khi đôi vợ chồng đó ra ở riêng thì phải trả lại để họ có vốn liếng, vừa để khỏi mang tiếng với dân bản là đã dùng hết cả vốn riêng của con dâu.
Đoàn đưa dâu do ông mối dẫn đầu theo đường thẳng mà đi. Trên đường đi, qua các cánh rừng, cầu, suối, ông mối phải vứt các đồng xu để mua đường, xua đuổi ma quỷ cho cô gái tự đi qua, không phải nhờ người cõng. Về đến nhà trai, ông mối đi vào trước và đứng ở cửa chính, giơ tay phải cho cô dâu chui qua, với ngụ ý ông mối là người đẻ ra và chắp duyên cho cô. Cô dâu vào buồng đã được nhà trai nhờ người mát tay rải chiếu, đốt đèn sẵn. Khi ngồi xuống giường, cô dâu phải tránh hướng tam sát (hướng đó tuỳ thuộc tuổi của cô gái, hay hướng nhà, do ông thầy xem). Sau đó, vào giờ may (cũng do thầy dặn trước), ăn một miếng cơm do nhà người chồng mang đến để lấy may. Ăn xong được ra khỏi buồng chào mọi người và làm các công việc.
Khi cô dâu vào buồng, chú rể ra chào những người của họ nhà gái có mặt tại nhà mình. Ông mối và chú rể hát chúc tụng, mở đầu cho đám hát của các trai gái hai bên. Nội dung các bài hát là ca ngợi tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng. Đám hát kéo dài đến khi bữa cơm, tức một trong hai bữa tiệc chính của đám cưới tại nhà trai. Cỗ cưới của người Sán Chí tương đối to, gồm các món sau:
- Lợn quay
- Khau nhục (thịt ba chỉ luộc rồi rán lại)
- Hầm miến
- Xá xíu (thịt quay vàng)
- "Toàn quyền" (đậu phụ nhồi thịt, trứng rồi đem rán)
- Thịt gà luộc
- Trứng ốp lếp
- Giò thủ và các món nấu.
Sau bữa tiệc, nhà gái xin phép ra về. Các bạn đồng niên của chú rể ngồi trò chuyện. Cô dâu phải đến chào. Mỗi bạn đồng niên của chú rể tặng cô một món quà (hiện vật hoặc tiền, tuỳ khả năng). Cô dâu cảm ơn và tặng lại mỗi người một khăn mặt thêu cô tự tay dệt trước ngày cưới, trong khăn có gói một miếng trầu, một điếu thuốc lá. Đến tối, khách khứa ra về hết, nhà trai dọn dẹp. Đêm hôm đó, cô dâu ngủ lại một mình trong buồng.
Ba ngày sau, hai vợ chồng cùng người em gái phù dâu trở về nhà bố mẹ vợ làm lễ lại mặt mang theo một con gà thiến (còn sống), một rá xôi, một chai rượu, trước đây có thêm một bánh pháo. Vợ và cô em gái đến trước, chồng đến sau một lúc. Cơm nước xong xuôi, cả ba người ra về. Hai vợ chồng đến nhà ông mối cảm tạ, đem theo một chân giò. Ông mối được cô dâu coi như bố đẻ, hằng năm phải lễ tết.
Đám cưới của người Sán Chí ở Lục Ngạn (Bắc Giang) bên cạnh việc phải trải qua nhiều lễ thức, kéo dài và có phần tốn kém cũng có những nét độc đáo, mang tính giáo dục. Đó là:
- Thời gian từ khi ăn hỏi đến khi cưới là ba năm để thử thách lòng kiên nhẫn, tình yêu của đôi trai gái, nhất là với người con trai, rèn luyện tính cần cù, biết chăm lo cho cuộc sống gia đình, quý trọng tình cảm của cô gái (qua việc phải dệt đủ quần áo, chăn đệm cho mình và khăn tặng bạn chồng).
- Giáo dục và trang bị cho cô gái một "hành trang làm dâu" khi về nhà chồng qua việc các bậc cô dì, chú bác... tổ chức các bữa cơm liên hoan chia tay với cô gái.
Đáng tiếc, những nét đẹp, những thuần phong mỹ tục này đang bị mất dần. Đề nghị chính quyền, các đoàn thể, ngành văn hoá các cấp có biện pháp duy trì, phát huy các mỹ tục nói trên.
B.X.Đ
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)