Dân tộc Kháng ở Điện Biên có số dân 3.573 người, cư trú rải rác ở khắp các huyện, trong đó tập trung nhiều nhất là ở huyện Tuần Giáo 2.087 người và huyện Mường Lay 1.120 người, số còn lại cư trú rải rác ở các huyện Điện Biên Đông, Tủa Chùa, Mường Tè... (số liệu điều tra của tỉnh Điện Biên năm 2003).
Trong cộng đồng người dân tộc Kháng ở Điện Biên thì ông thầy mo (Tẻ ả) luôn có một vai trò rất quan trọng, thầy mo là người có thể cúng chữa bệnh, giải hạn, giúp cho các thành viên trong cộng đồng tránh được những rủi ro vận hạn không tốt... do đó, ông ta luôn được cả cộng đồng kính trọng. Để làm được những việc đó, ông thầy mo lại phải nhờ đến sự trợ giúp của ma thầy, ma thầy đã đem đến sức mạnh và những khả năng chữa trị bệnh tất cho mọi người của ông thầy mo. Chính vì vậy, hằng năm ông thầy mo đều tổ chức lễ Xé pang ả để tạ ơn ma thầy và các loại ma khác đã đem đến cho thầy mo và dân làng sự yên ổn trong năm qua và cầu mong những may mắn đó sẽ luôn đến với thầy mo cũng như đến với tất cả mọi người trong cộng đồng người dân tộc Kháng. Lễ Xé pang ả dịch ra tiếng phổ thông có nghĩa là lễ múa mừng thầy.
Tất cả các khâu chuẩn bị từ nhiều ngày trước đã hoàn tất, đến ngày diễn ra lễ Xé pang là ngày quan trọng nhất. Ngay từ sáng sớm, mọi người từ khắp nơi đã đổ về nhà thầy mo để lo chuẩn bị sắp lễ cúng, sắp cơm nước mổ lợn cho nhà thầy. Công việc nấu nướng sẽ do các chị em phụ nữ đảm nhiệm, người nạo sắn, người đồ cơm, người hơ lá chuối trên bếp lửa rất nhộn nhịp. Những người đàn ông thì bắt tay vào sắp xếp nơi thờ cúng và tiến hành lễ cúng cùng với thầy mo, họ sắp xếp các chum rượu cần sao cho thứ tự và gọn gàng ở chân cây nêu (mạy xẳng đoóc), sau đó cắm vòi và cắm các vòng lá chuối lên miệng chum rượu để trang trí, những người khác thì đi mổ lợn và chế biến các món ăn trong ngày diễn ra lễ cúng.
Bà vợ ông thầy cúng có nhiệm vụ chuẩn bị các đạo cụ cho thầy như mũ cúng, quạt, chuông, chùm vải chuông, khăn múa, đai lưng. Quan niệm của người Kháng về các đạo cụ cúng của thầy mo là rất quan trọng. Nếu ông thầy mo không có đầy đủ các đạo cụ đó thì tất cả các hình thức tiến hành các nghi thức cúng đều không linh nghiệm, lời khấn cầu và các phép niệm chú của thầy mo đều không có tác dụng đến thế giới linh thiêng. Do vậy mà mỗi ông thầy mo làm nghi lễ cúng bái đều phải có sự đóng góp của bà vợ rất nhiều, khi thầy mo đi cúng về sẽ giao tất cả các đạo cụ, vật dụng cho bà vợ cất đi cẩn thận khi nào đi cúng bà vợ sẽ là người chuẩn bị đạo cụ cúng cho thầy mo.
Ông thầy mo phải lựa chọn cho mình một hoặc hai người thổi sáo khi thầy tiến hành các nghi lễ trong lễ Xé pang ả, trong quan niệm của người Kháng khi thầy mo làm lễ cúng phải có tiếng sáo đi theo để gọi mời được các loại ma về dự và nhận lễ vật mà thầy mo và mọi người tiến cúng lên.
1. Lễ cúng báo ma tổ tiên "ngặt đăm"
Lễ cúng đầu tiên trong ngày diễn ra lễ Xé pang ả ở nhà thầy mo chính là lễ cúng ma tổ tiên, để báo cho ma tổ tiên biết được ngày hôm nay gia đình sẽ chính thức tiến hành lễ cúng Xé pang ả như đã dự định. Vì vậy mà hôm nay trong nhà sẽ mở rộng cửa để đón mời tất cả các lực lượng siêu nhiên như ma bản, ma trời, ma đất, ma nước mà thầy và bà con dân bản từ khắp nơi đổ về tham dự lễ cúng Xé pang ả này, vì vậy tổ tiên hãy phù hộ cho lễ Xé pang ả được diễn ra suôn sẻ may mắn.
Bước vào lễ cúng này ông thầy mo và con cháu chuẩn bị sẵn một mâm lễ vật gồm có: gà, rượu, thịt lợn luộc, nến, hoa quả... Thầy mo đặt mâm lễ vật vào nơi thờ ma nhà ở phía góc nhà, đối diện với bếp khách, thầy mo ngồi trước mâm lễ, tư thế quay mặt vào trong góc nhà, châm đèn đốt một cây nến cắm vào thành mâm lễ vật, tay cầm quạt và chuông vừa quạt vừa tạo ra tiếng kêu của chuông rồi ngồi khấn cúng báo cho ma tổ tiên biết việc gia đình chuẩn bị tiến hành lễ Xé pang ả, vì hôm nay là ngày đẹp trời, ngày lành mà gia đình đã lựa chọn kỹ lưỡng từ nhiều ngày nay. Khi ông thầy mo cúng bái tổ tiên thì ông thổi sáo phải ngồi bên cạnh phía tay trái của thầy mo để thổi sáo cho thầy mo thực hiện nghi lễ cúng bái của mình. Chỉ khi nào thầy mo ngừng bài cúng thì người thổi sáo mới ngừng thổi theo những động tác của thầy mo. Cúng được một hồi, ông thầy mo sẽ ngừng cúng và rót đầy hai chén rượu và dùng đũa gắp lên rượu và các lễ vật khác trong mâm vẩy lên phía trước để mời ma tổ tiên ăn lễ vật, sau đó ông ta sẽ lần lượt uống hai chén rượu đó, uống xong lại tiếp tục cúng và thực hiện nghi thức mời tổ tiên ăn lễ vật như vậy ba lần thì hoàn thành lễ cúng tổ tiên. Sau khi cúng xong, ông thầy mo gọi người vào cất dọn mâm lễ vật cúng tổ tiên và chuẩn bị lễ vật cho các lễ cúng tiếp theo.
2. Lễ cúng mời ma trời "ngặt sun"
Ma trời “ngặt sun” ở trên cao nhất có thể nhìn thấy tất cả mọi việc đang diễn ra ở dưới trần gian, do vậy, người Kháng tổ chức lễ Xé pang ả là phải báo cho ma trời biết và làm mâm lễ vật để cúng gọi và dâng lên cho ma trời, lập đàn dựng lễ, làm cầu cho ma xuống được địa điểm tổ chức lễ cúng. Tuy nhiên, người Kháng cho rằng ma trời thì không thể mời vào nhà được, mà chỉ có thể mời ma trời xuống một địa điểm ngoài nhà.
Để cúng ma trời thì các lễ vật cúng hoàn toàn khác với các loại ma khác, mâm đựng lễ vật “pan leo” cũng phải là mâm mới đan, rất tinh sảo và gọn gàng chắc chắn, lễ vật gồm một gói cơm gói bằng lá chuối, một bọc gồm các sợi vải đủ các màu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng... mỗi sợi dài khoảng 30 - 40cm, tất cả được gói trong một miếng vải trắng, một khúc vải màu đen dài khoảng 2m cùng được cuốn gọn gàng để vào góc mâm lễ. Mâm lễ được chuẩn bị xong bê lên gian cúng. Ông thầy mo còn phải chuẩn bị thêm 2 con gà, mỗi con khoảng 0,2 - 0,3kg để làm lễ vật tế sống cho ma trời khi mà ông ta mời ma trời hạ giá về hưởng lễ.
Lễ vật đã đầy đủ thầy mo sẽ chỉnh đốn về trang phục, mũ, đai lưng cho cẩn thận rồi ông bước ra đứng trước gian cúng ma trời đốt một que hương, cắm vào cạnh mâm lễ vật sau đó tay cầm quạt và chuông rung lên theo nhịp quạt, ông ra đọc lời cúng khấn ma trời hạ giá về nhận lễ vật. Thầy cúng thực hiện lễ cúng được một lúc, hai thanh niên ra cầm hai con gà và đứng bên cạnh mình, trước gian thờ ma trời hai thanh niên cầm hai con gà còn sống giơ về phía trước mặt mình để thầy mo khấn báo cho ma trời biết việc tế lễ vật sống cho ma trời. Khi mà thầy mo khấn xong thì mâm lễ vật đó được đặt xuống và đặt lên giàn là một chiếc đĩa để hai thanh niên cầm đầu gà sẽ cắt tiết theo sự chỉ đạo của thầy mo, họ cắt tiết hai con gà rồi giơ lên giàn cúng cho tiết gà chảy xuống khắp giàn cúng, sau đó cho tiết chảy vào đĩa. Cắt tiết gà xong hai thanh niên này có nhiệm vụ ngồi vặt lông, mổ gà ngay tại đấy, khi mổ gà xong họ sẽ cho vào luộc phần mình gà, còn phần nội tạng được thái nhỏ cho vào nấu canh, nấu chín họ sẽ mang gà đặt trong mâm và canh đặt trong ống nứa cùng với hai chén rượu, hai đôi đũa. Thầy mo lại cúng khấn mời ma trời hưởng lễ vật chín của gia đình dâng lên.
3. Lễ rước ma thầy "ngặt ả'
Lễ cúng rước ma thầy là nghi lễ quan trọng nhất, thời gian diễn ra dài nhất khoảng 2 giờ đồng hồ. Có thể nói đây là nghi lễ chính trong các nghi lễ cúng mời ma vì ma thầy là nhân vật chính của nghi lễ Xé pang ả. Lễ vật để cúng mời ma thầy là nhiều nhất, đầy đủ nhất, tất cả mọi người mang lễ về đều đặt ở mâm để người trong gia đình nhà thầy mo sắp xếp lên các mâm cúng, trong các mâm đựng lễ lại có một mâm chính và các mâm con, mâm chính là to nhất do nhà thầy mo chuẩn bị, mâm con nhỏ hơn là mâm của con cái nhà thầy mo mang đến. Mâm chính rộng khoảng 50cm, dài 80cm, ở dưới lót lá chuối và được xếp nhiều lễ vật nhất gồm gà luộc, cá nướng, sóc đồ, các mâm phụ được bày ít lễ vật hơn và mâm phụ có diện tích nhỏ hơn, chiều rộng khoảng 30cm, chiều dài khoảng 40cm.
Các loại lễ vật dâng cúng ma thầy gồm:
- Gà luộc (riên)
- Cá nướng (ca kẹp)
- Cơm lam (ma lọ)
- Mía (mia)
- Bí luộc (pịu tom)
- Cơm nếp cẩm (mà ngo cảm)
- Cơm nếp trắng (mà ngo búp)
- Gạo (có)
- Măng (băng)
- Canh gừng (hịa)
- Khoai (quai họ)
- Lòng lợn (hiên ẹc)
- Hoa mào gà (cản hốc)
- Đu đủ (ple hủng)
- Mướp (ple bọp)
- Cốc nứa (choóc)
- Rượu (khả)
- Chụp lá chuối (chom la)
- Canh rau đắng (keng loong nhung).
Trên mâm chính, đặt đầy đủ các đồ vật đã kể trên và còn đặt thêm một hoặc hai con sóc “pờ lưu” đã được đồ chín “bọi”, ở mâm chính được sắp xếp đầy các lễ vật gà, cá còn các mâm con do con của thầy mo đem đến gồm con đẻ và cả con nuôi và học trò theo học nghề thầy cúng, ở mỗi mâm này bầy: 1 con gà, 3 nắm cơm, 1 nhúm gạo, 3 chén canh gừng, măng, rau đắng, 3 khúc cơm lam, 1 ống nửa đựng lòng lợn, 1 miếng đu đủ luộc.
Sắp xếp lễ vật lên mâm xong, họ sẽ xếp các mâm lễ này ở dưới chân cây nêu “mạy xẳng đoóc”, mâm chính được đặt ở vị trí trung tâm, các mâm phụ đặt ở xung quanh để chuẩn bị vào nghi lễ cúng. Khi sắp bước vào lễ cúng, ông thầy mo sẽ ngồi vào vị trí của mình và sắp đặt cho những người con ngồi đúng vị trí mâm của mỗi người, ông thầy mo chia cho mỗi người một cây nến “nắm tiến” đây là loại nến làm bằng sáp ong. Xưa kia người Kháng không dùng hương để cúng mà cũng không dùng nến mua ngoài chợ như bây giờ mà họ chủ yếu dùng nến tự làm bằng sáp ong, họ lấy sợi vải dài khoảng 10cm làm lõi nến sau đó lấy sáp ong vê xung quanh sợi vải đó tạo thành cây nến, mỗi cây nến dài khoảng 10cm và to bằng đầu đũa.
Khi thầy mo đã chia nến cho mọi người, tất cả những người ngồi quanh mâm lễ sẽ cầm cây nến của mình, thầy mo đốt nến và cắm vào cạnh mâm lễ cúng chính của thầy thì mọi người cũng đốt nến và cắm vào mâm lễ của mình, cắm xong thầy mo gọi tất cả mọi người về trước gian thờ để làm lý. Trong phong tục của người Kháng thì trước khi tiến hành nghi lễ cúng to như vậy, họ phải tiến hành nghi thức làm lý, tức là uống rượu chào ma nhà.
Khi làm lý ông thầy mo sẽ đứng lên và mọi người đứng lên theo thầy, ông ta cầm tất cả các vòi rượu lại thành một túm nắm vào tay, chân trái đặt lên bình rượu chính đặt ở chân cây nêu sau đó đọc lời cúng làm lý, khi thầy mo đọc lời cúng làm lý xong ông ta sẽ lấy cái “peng ra khả” làm bằng lạt tre để gạt rượu bên trên miệng chum để mời ma nhà, ông ta dùng cái “peng ra khả” vẩy rượu ra xung quanh và vẩy lên cây nêu vài lần, rồi chia vòi hút rượu cho những người ở xung quanh mỗi người một vòi, sau đó thầy mo cầm cái vòi chính của mình và nói với mọi người uống rượu đi, tất cả mọi người đồng thanh đáp lại lời mời của thầy và cùng nhau uống.
Trong khi mọi người uống rượu có hai thanh niên làm nhiệm vụ tiếp nước vào các bình rượu cần. Họ dùng một cái sừng trâu có một lỗ thủng ở dưới đầu nhọn của sừng để xả nước vào chum rượu cần, hai người đong nước vào chum rượu sẽ có nhiệm vụ đong đủ số lượng mà mọi người quy định trước khi uống rượu, chẳng hạn như mỗi người phải uống 2 sừng trâu thì mới thôi, họ sẽ đếm số người uống rượu trong chum để mà đong sao cho đầy đủ số lượng đã quy định. Khi mọi người uống rượu xong thì cũng là lúc kết thúc nghi thức làm lý và thầy mo sẽ bước vào nghi lễ cúng mời ma thầy trở về bàn thờ ngay tức khắc. Ông thầy mo ngồi quay lưng lại phía cây nêu và ngoảnh mặt vào vách nhà, ở trên là bàn thờ ma thầy, ông thổi sáo ngồi bên tay trái của thầy mo với tư thế chuẩn bị khi nào thầy mo ra hiệu thổi thì ông ta sẽ thổi để thầy mo cúng khấn. Khi đã chỉnh lại trang phục và đạo cụ đầy đủ, thầy mo rung quạt và chuông lên cho thầy thổi sáo biết mà thổi, khi tiếng sáo đã ngân lên ông thầy mo bắt đầu khấn mời ma thầy trở về bàn thờ, ông ta nhắm mắt và khấn, còn tay cầm quạt và chuông rung liên hồi hòa cùng với nhịp lời khấn cúng. Ở lễ cúng mời ma thầy được tiến hành theo nhiều bước, cứ mỗi lần hết một bước tức là cúng hết một hồi khoảng 20 - 25 phút, thầy mo lại dừng lại và rót hai chén rượu, ông ta uống một chén và đưa cho ông thổi sáo một chén rồi lấy thịt gà và cơm nếp mỗi thứ một ít để ăn, ông thầy mo còn xé thịt gà và cơm nếp chia cho những người ngồi bên cạnh mình trong khi ông ta thực hiện lễ cúng mời ma thầy, đây là hình thức nghỉ ăn đường để lấy sức đi rước ma thầy, họ cho rằng để đến được nơi ma thầy ở là cả một chặng đường rất xa xôi phải qua nhiều chặng, do vậy trên các chặng đường đó thầy mo phải ăn uống tiếp sức để đi mời ma thầy.
Đến khoảng giữa thời gian cúng mời ma thầy ông thầy mo lại phải đốt một cây nến cắm ở trước mặt sát vách nhà, đốt hai que hương đưa cho người thổi sáo cắm lên trên ống hương ở bàn thờ ma thầy. Sau đó, thầy mo lại tiếp tục cúng, mỗi khi cúng hết hồi thầy mo lại cầm cây nến thổi tắt nến sau đó lại uống rượu, tiếp vài phút sau thầy mo lại tiếp tục đốt nến và thực hiện bước cúng mời ma thầy tiếp theo. Đốt nến trong khi thầy mo đang tiến hành cúng mời ma thầy là để soi đường đi đến nhà thầy, khi mời được ma thầy xuống bàn thờ rồi thì cây nến là đèn thắp sáng cho nhà ma thầy. Thầy mo tiến hành xong lễ cúng mời ma thầy ông ta sẽ nói cho một người ngồi bên cạnh mình biết, người đó sẽ ra gõ 4 tiếng trống báo hiệu cho tất cả mọi người trong nhà biết là ma thầy đã về đến bàn thờ, mọi người chuẩn bị về nhà thầy múa gậy cho ma thầy xem.
4. Cúng ma đất "ngặt tie"
Trong cộng đồng làng bản, nhà ai có công to việc lớn đều phải sắp lễ vật ra cúng báo cho ma đất biết để ma đất phù hộ che chở cho công việc được diễn ra an toàn tốt đẹp. Đối với lễ Xé pang ả, thầy mo phải nhờ một người khác cũng là người biết cúng bái thông thạo sẽ thay mình đi cúng báo cho ma đất. Người được thầy mo cử đi cúng báo ma đất sẽ chọn hai người thanh niên mang theo lễ vật gồm: 1 con gà, 1 chai rượu, 2 cây nến, 2 ống nứa đựng canh, 4 cái chén, 1 gói cơm, 1 bó hương.
Khi ra đến nơi thờ ma đất họ ngồi cúng và lấy từng loại lễ vứt ra phía trước và xung quanh bàn thờ, đây là một hình thức tiếp lễ cho ma đất, sau khi đọc xong lời cúng ông ta sẽ ra hiệu cho hai người đi theo cầm gậy nhảy múa một hồi để báo cho ma đất biết rằng gia đình sẽ tổ chức lễ múa gậy xé pang, vì vậy, sẽ gây kinh động đến làng bản, giờ báo cho ma đất biết trước mà che chở cho những người nhảy múa được vui vẻ sôi nổi, hai người múa một hồi khoảng 3 - 4 phút sẽ dừng lại sau đó thầy mo sẽ xé thịt gà và rót rượu ra ba người ngồi ăn uống hết số đồ lễ vật mang theo thì họ mới trở về nhà thầy mo chính (chủ gia đình). Khi trở về, họ sẽ báo với thầy mo và mọi người trong nhà là đã đi cúng báo ma đất và cúng dâng hết số đồ lễ cho ma đất rồi, bây giờ gia đình có thể nhảy múa vui vẻ.
5. Lễ nhẩy gậy xé pang
Sau khi mà những người mang lễ đi cúng ma bản trở về nhà thì lễ múa gậy mới có thể tiến hành được, vì họ cho rằng múa gậy sẽ gây tiếng động lớn làm vang động khắp nơi, nếu chưa cúng báo ma đất thì chưa thể tiến hành được. Khi mọi người đi cúng báo ma đất về lúc này thời gian cũng bước sang đầu giờ chiều khoảng 2 giờ chiều.
Trước khi lễ nhẩy gậy diễn ra thì chủ nhà phải chuẩn bị rất chu đáo, từ việc đóng ván sàn cho thật chắc chắn có thể đáp ứng cho hàng trăm người cùng nhảy múa một lúc. Ngoài ra, họ còn phải chuẩn bị một cây gỗ dài để cho mọi người múa gậy, cây gỗ này gọi là gỗ xé pang “pen bu” dài từ 8 - 10m khổ vuông hình chữ nhật rộng khoảng 20 - 30cm dầy khoảng 10 - 15cm, đặt theo chiều dài của nhà để mọi người ra vào khi tham gia nhảy múa được tiện lợi.
Trống (Le Trửng) là nhạc cụ rất quan trọng không thể thiếu được khi mọi người nhảy múa (xé pang). Trống được treo ở đầu cây gỗ xé pang (pen bu) để mọi người thuận lợi khi gõ trống hòa cùng nhịp điệu nhảy múa.
Khi mọi người bước vào nhảy múa thì đòi hỏi người phải có từ hai đến ba người gõ trống và cùng thống nhất về nhịp trống và nhịp gõ của gậy lên cây gỗ xé pang, những người tham gia vào nhảy múa sẽ cầm gậy tay phải, họ đi nối tiếp nhau thành hàng đi theo chiều kim đồng hồ, khi bước lên phía trước một bước thì đồng thời tay cầm gậy giơ lên và gõ xuống ba lần theo nhịp trống 1, 2, 3 và bước chân của họ bước chậm 1 bước, 2 bước đến bước thứ ba thì chỉ chấm bàn chân về phía trước rồi lại giật lùi lại phía sau ngay đúng với nhịp gõ gậy lần thứ ba, cứ thế hàng trăm người nối đuôi nhau trong điệu múa gậy say sưa, có khi đến sáng họ mới ngừng múa và sáng hôm sau điệu múa lại tiếp tục.
6. Lễ học trò dâng ma thầy
Trong khi mọi người vẫn say sưa trong điệu nhảy múa xé pang thì lúc này thầy mo sẽ tiến hành lễ cúng dâng lễ vật của các học trò đang theo học nghề thầy mo cúng lên ma thầy, lễ vật trong lễ cúng này được xếp đặt trong 1 chiếc mẹt gồm có: 1 bát gạo, 1 quả trứng, 2 cây nến, cơm nếp cẩm, cơm nếp trắng, canh gừng, chuối nướng, canh đắng, hoa vông, đu đủ luộc, 1 cái bát đựng 2 chén rượu cần.
Thầy mo lấy 1 cái que tách đầu que ra làm 3 và gài vào 3 đầu tách ấy 3 nhóm bông để làm đạo cụ cúng và cắm trên bát gạo. Lễ vật được chuẩn bị đầy đủ, thầy mo tiến hành cúng khấn lên ma thầy để báo cho ma thầy biết về việc những đệ tử đang theo học làm mo, giờ họ dâng lễ lên ma thầy để ma thầy chứng giám mà nhận lễ và sau này sẽ truyền cho họ sức mạnh để trở thành thầy mo cao tay. Sau khi thầy mo cúng xong, ông ta dừng lại uống rượu và đốt cây nến, sau đó hơ vào mồm từng học trò một, hơ đến ai người đó sẽ làm động tác đớp lửa rồi hà hơi cho tắt ngọn nến, rồi thầy mo lại đưa cho 1 chén rượu và người nhận rượu sẽ uống hết chén rượu đó. Đây là nghi lễ thức ăn cơm ma, ngọn nến và rượu đấy tượng trưng cho sức mạnh của ma thầy mà những người học trò lĩnh hội sức khỏe đó qua động tác ăn lửa và uống rượu mà ông thầy mo đã khẩn cầu ma thầy ban cho. Cuối cùng, thầy cúng lần lượt thực hiện nghi lễ đó với tất cả các học trò xong thì lấy cơm nếp và thịt gà xé ra cho vào mồm từng học trò để ăn lộc của ma thầy mà có sức khỏe tốt tránh được tai ương bệnh tật trong đời sống hằng ngày.
7. Lễ cày nương cho ma thầy "cây ki ngặt ả"
Thời gian lúc này vào khoảng 20 giờ, thầy mo cho người đi lấy một cây chuối “tỷ” và cây thiên tuế “cò so” cao khoảng 1,2m mang hai cây vào gian thờ ma tổ, rồi họ dựng lên vách nhà để thầy mo cúng báo cho ma thầy biết việc sẽ tiến hành lễ cày nương cho ma thầy “cây ki”. Cây chuối và cây thiên tuế là tượng trưng cho hai con trâu, chuối là con trâu trắng, thiên tuế là con trâu đen. Khi thầy mo cúng báo cho ma thầy xong các học trò sẽ dùng dây lạt nối dài khoảng 1,3 - 1,5m buộc vào phần gốc của hai cây, sau đó thầy mo sẽ chỉ định một người học trò hoặc con trai cả của thầy mo cùng thầy mo đi cày nương cho ma thầy. Bước vào nghi thức cày nương thì cả thầy mo và học trò đều phải đội mũ nón đi cầy để đảm bảo sức khỏe và hăng hái lao động. Thầy mo sẽ cày bằng con trâu trắng, người được thầy chỉ định sẽ cày bằng con trâu đen, hai học trò sẽ là người dắt trâu, thầy mo đi cầy trước, ông ta cầm ngọn cây chuối cắm đầu gốc xuống sàn nhà tạo độ nghiêng khoảng 600, người học trò sẽ cầm dây lạt kéo cây chuối đi về phía cây gỗ xé pang, sau đó đi dọc theo cây gỗ đấy, rồi quay lại tiến về phía gian thờ cúng ma thầy, ông thổi sáo đi ngang bên cạnh thầy mo thổi liên hồi không nghỉ, thầy mo đi trước được một đoạn thì người đi cày con trâu đen sẽ đi cày theo thầy mo và cũng dừng lạỉơ gian thờ ma thầy. Trong lúc thực hiện nghi lễ cày nương cho ma thầy thì tất cả những người đang múa xé pang đều dừng đều nhường cho thầy mo đi cày, sau khi thầy mo và các học trò đi cày xong mọi người lại tiếp tục nhảy múa say sưa. Cày nương xong thầy mo sai học trò mang hai con trâu ra dựng ở ngoài nhà, đến đây thì kết thúc lễ cày nương cho ma thầy.
8. Lễ đuổi tà ma xấu
Sau lễ cày nương cho ma thầy, thầy mo và các học trò của mình sẽ tiến hành lễ đuổi ma xấu ở trong nhà mình, nhằm bảo vệ cho mọi người trong ngày lễ Xé pang ả, tránh được ma xấu không làm hại đến bản thân và phá vỡ sự vui vẻ nhộn nhịp trong ngày diễn ra nghi lễ. Thầy mo gọi các học trò mang dao về ngồi xung quanh thầy để thầy mo cúng báo cho ma thầy biết sau đó họ sẽ tiến hành. Thầy mo sai người chuẩn bị một mâm lễ vật và một con dao gỗ.
Thầy mo và các học trò ra ngồi trước mâm lễ vật, ông ta cầm cây nến đưa cho các học trò mỗi người một cây, thầy mo cầm một cây và mọi người cùng châm lửa đốt nến sau đó cắm cây nến lên lưỡi dao và giơ vào mâm lễ. Thầy mo đọc lời khấn cúng và cầm quạt chỉ vào mâm lễ để báo cho ma thầy biết việc đi đuổi ma xấu ra khỏi nhà để giữ yên ổn cho mọi người trong ngày lễ Xé pang ả, ông thổi sáo cũng ngồi cạnh thầy mo, đợi khi nào thầy mo đứng lên đi thì ông ta phải đi theo bên cạnh thầy mo để thổi sáo.
Thầy mo cúng báo ma thầy xong sẽ đứng lên đi về phía cây gỗ xé pang, tất cả học trò đi theo hai bên thầy mo, mọi người cầm con dao chỉ xuống dưới, dáng người hơi khom thầy mo cầm dao gỗ “mại phạ mày” chỉ xuống cây gỗ xé pang vừa đi dọc theo cây gỗ vừa khấn đuổi ma, khi đi hết cây gỗ họ lại quay lại một vòng nữa đến đầu bên này thì họ tiến về gian thờ ma tổ và kết thúc lễ đuổi tà ma xấu tại đây.
9. Lễ tạ ơn và giải hạn
Đây là nghi lễ cuối cùng diễn ra trong ngày lễ Xé pang tả lần thứ nhất. Nghi lễ này diễn ra dài nhất vì thầy mo phải làm lễ cho từng người một, là nghi lễ tạ ơn ma thầy và cầu mong sự che chở tránh được ốm đau, bệnh tật, tai ương của những người đã từng được thầy mo cúng giải hạn hoặc chữa bệnh cho, nay họ mang lễ về tạ ơn ma thầy và thầy mo, tất cả những người trở về nhà thầy sẽ đem theo lễ vật gồm 1 con gà luộc hoặc cá nướng, 1 gói cơm, 1 chai rượu, 1 cái khăn vải dài khoảng 50 - 70cm, khổ rộng 20cm. Trong các lễ vật đó thì chiếc khăn được coi như là hồn của người mang đến. Vì vậy, thầy mo nhận lễ vật rồi sẽ cầm khăn vắt lên một cái sào ở gần bàn thờ ma thầy để ma thầy nhận biết được hồn của người đó mà bảo vệ cho hồn được khỏe mạnh tránh được ốm đau bệnh tật, không bị ma xấu làm hại. Thầy mo nhận lễ vật của từng người một và đặt lên mâm cúng ở trước mặt mình, ông ta sẽ cúng báo cho ma thầy biết tên tuổi của người đến tạ ơn, và người đó đã được thầy mo cúng cho mấy lần, hôm nay người đó đã mang lễ vật gì đến để dâng lên ma thầy. Ông ta đọc lời khấn ma thầy phù hộ cho người đó rồi thầy mo cầm 1 cây nến đang cháy từ từ đưa về phía người đó, người mang lễ về cúng tạ ơn sẽ há miệng đớp cây nến đó. Khi người đó đớp nến họ sẽ thổi một luồng hơi mạnh ra làm tắt cây nến, như vậy là thực hiện động tác ăn lửa của ma thầy thành công. Sau khi ăn lửa xong, thầy mo lại dùng con dao gỗ “mại phạ mày” giơ lên chỉ về phía người đến tạ ơn, sau đó thầy mo nghiêng con dao nằm ngang ra và đặt lên con dao đó một chén rượu, ông ta đưa chén rượu đó bằng cách đưa dao về phía người đến tạ ơn, người đó sẽ cúi xuống uống chén rượu đó rồi lấy miệng hất chén xuống sàn nhà. Xong chén thứ nhất, thầy mo lại tiếp tục cho uống chén thứ hai, mỗi người phải uống 2 chén như vậy. Đây là nghi thức uống rượu cúng của ma thầy, do vậy mà ai cũng sẽ uống, có người uống đến 4, 5 lần để cầu mong có được sức khỏe và sự may mắn. Sau khi đã thực hiện xong các nghi lễ ăn lửa ma và uống rượu xong, thầy mo sẽ xé thịt gà và cơm trong mâm ra đưa vào miệng cho từng người ăn. Những lễ vật mà họ mang đến như thịt gà và cơm nếp thầy mo sẽ chia làm hai phần, thầy lấy một phần và một phần đưa lại cho người đến tạ ơn. Cuối cùng, ông ta sẽ lấy một sợi dây vải nhuộm màu đen đưa lên mồm thổi 3 hơi vào sợi dây và niệm thần chú xong thì đeo vào cổ tay của người đến tạ ơn để làm bùa hộ mệnh.
10. Các nghi lễ diễn ra trong buổi sáng hôm sau
Buổi sáng hôm sau, khi trời còn rất sớm bà chủ nhà đã dậy dọn dẹp cùng mọi người và chuẩn bị lễ vật để thầy mo làm lễ cúng ma thầy, lễ vật được chuẩn bị làm hai mâm.
Cả hai mâm lễ được bày ra gian thờ ma thầy, thầy mo và ông thổi sáo cùng bước vào vị trí ngồi cùng, ông ta mặc trang phục cúng vào rồi hai ông ngồi uống mỗi người hai chén rượu rồi mỗi người lại đứng lên uống hai sừng rượu cần, sau đó mới bước vào lễ cúng mời ma thầy về ăn lễ vật cúng buổi sáng. Thầy mo rung quạt và chuông, mắt nhắm miệng đọc lời khấn thật to hòa cùng nhịp sáo của ông thổi sáo đang ngồi bên cạnh mình. Thầy mo vừa cúng vừa lấy đũa gắp thức ăn trong bát vung ra ngoài để cho ma ăn, sau một hồi cúng ông ta lại dừng lại uống hai chén rượu rồi lại cúng tiếp.
Khi cúng mời ma thầy xong thầy mo và ông kèn lại đứng lên cạnh cây nêu, thầy mo một tay cầm vào thân cây nêu, một chân đặt ghếch lên chum rượu, ông ta gọi bà vợ và các học trò vào đứng xung quanh để chuẩn bị làm lễ vác rượu “hảng khà”, thầy mo cầm 4 vòi rượu xiên ngang vào 4 vòi đang cắm trong 1 bình rượu chính ở gốc cây nêu. Sau đó, thầy mo sẽ cầm 1 vòi và 3 học trò cùng vợ thầy mo cầm 3 vòi còn lại, họ từ từ nâng 4 vòi ngang đó lên cao khoảng 40cm khỏi miệng chum theo lời cúng của thầy mo, khi nào thầy mo cúng xong lại hạ xuống. Đến lần nâng thứ hai, bà chủ nhà sẽ lấy một cái đĩa đựng mấy miếng trầu, lần này họ khênh lên đặt xuống chín lần thì thôi và đĩa trầu đó được đặt lên bàn thờ ma thầy. Đây là nghi lễ cất rượu để cho ma thầy biết đó là lễ cúng đã xong, gia đình sẽ cất rượu để sang năm lại tổ chức được lễ Xé pang ả đông vui nhộn nhịp hơn năm nay.
11. Lễ cúng cho các con vật trong nhà ma thầy ăn
Sau lễ cúng vác rượu, thầy mo sẽ thực hiện luôn lễ cúng dâng lễ vật cho các con vật nhà ma thầy ăn như con gấu, khỉ, ba ba, con rắn... Thầy mo vừa cúng vừa cầm các vật đang treo trên cây nêu như bắp ngô, hoa chuối, mộc nhĩ... vừa cầm các vật đó thầy mo vừa cúng dâng lên cho các con vật nhà ma thầy về ăn và hẹn với chúng không được phá hoại mùa màng nương rẫy của dân bản, không được quấy phá sự yên ổn của bản làng và hẹn chúng đến lễ Xé pang năm sau gia đình sẽ lại tổ chức đông vui hơn.
12. Lễ múa khăn "xê la pả hang"
Khi đã lần lượt thực hiện các nghi lễ trong buổi sáng đó, thầy mo sẽ gọi mọi người trở về để thực hiện nghi lễ cuối cùng để thúc đó là lễ múa khăn tiễn ma thầy, thầy mo lấy khăn vắt ở trên sào dưới bàn thờ đưa cho các học trò của mình mỗi người một cái, các học trò nhận khăn và dùng hai tay căng ngang hai đầu chiếc khăn ra. Họ đứng cúi gập người xuống cứ thế cùng nhau giơ khăn xung quanh thầy mo để thầy cúng báo cho ma thầy biết các học trò chuẩn bị làm lễ múa khăn tiễn ma thầy về nơi ở của mình. Khi thầy mo cúng xong, sẽ hô mọi người ra múa, tất cả mọi người ra trước gian thờ ma thầy để nhảy múa thành một hàng, họ múa theo động tác nhảy một bước về phía trước và nhấc một chân lên, đồng thời tay cầm khăn sẽ vung lên vắt qua vai, đầu hơi nghiêng sang một bên, họ cầm khăn bằng tay phải, khi mà họ nhấc chân trái thì tay cầm khăn sẽ vắt về vai phải và đầu nghiêng sang bên trái, khi chân phải nhảy khăn sẽ vắt sang bên trái và đầu cũng nghiêng về bên phải. Cứ thế, họ xếp thành một hàng múa từ gian thờ ma thầy đi về phía cây gỗ xé pang và tiếp tục đi một lượt vòng quanh cây gỗ xé pang thì quay trở lại gian thờ ma thầy và dừng lại giao trả khăn cho thầy mo. Một học trò của thầy mo sẽ lấy cây mía ở cây nêu ra chặt thành từng đoạn ngắn khoảng 10cm tung ra cho mọi người, ai đỡ được thì coi như nhặt được lộc của ma thầy. Đây được coi là lộc mà ma thầy để lại trước khi về khỏi nhà thầy mo, và cũng đến đây thì kết thúc lễ Xé pang ả. Tại nhà thầy mo, mọi người dọn cơm ra để ăn uống vui vẻ chúc mừng thầy mo và gia đình vì đã tổ chức lễ Xé pang ả được tốt đẹp và may mắn.
Ngày nay trong cộng đồng dân tộc Kháng đang chịu tác động của nền kinh tế thị trường có nhiều biến đổi rõ rệt về các mặt kinh tế - văn hóa xã hội, nhưng người Kháng ở Điện Biên vẫn giữ được những nét bản sắc văn hóa riêng biệt so với các dân tộc khác cùng cư trú trên một địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung, bổ sung vào kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ của các dân tộc Việt Nam.
P. C. H
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)
(*) Sở Văn hóa - Thông tin Lào Cai.